VIETKINGS – Niên lịch Việt Nam (28): 128 năm Viện Pasteur Sài Gòn – Viện chăm sóc sức khỏe lâu đời nhất Thành phố Hồ Chí Minh,Việt Nam.

11-06-2019

(VIETKINGS - KYLUC.VN) Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur ngoài Pháp đầu tiên trên thế giới và nay là Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh, đã được thành năm 1891, theo ý tưởng của nhà khoa học Louis Pasteur. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, bao nhiêu thế hệ đã đi qua, để cống hiến, xây dựng và phát triển. Nhưng sự nghiệp Pasteur vẫn là sự nghiệp của khoa học, phục vụ sức khỏe cộng đồng và hợp tác giữa các dân tộc.

 

 
 
Hơn một thế kỷ, đất nước Việt Nam đã trải qua một chặng đường lịch sử sôi động, đầy biến cố. Qua nhiều lần, các thể chế chính trị bị đảo lộn, nhiều cái đã tiêu vong, nhưng có những sự nghiệp vẫn bền vững vượt qua thời gian, vì nó đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của con người. Sự nghiệp của Louis Pasteur là một trong những sự nghiệp như vậy, vì đó là một sự nghiệp khoa học, một sự nghiệp phục vụ sức khỏe con người, một sự nghiệp hợp tác giữa các dân tộc vẫn tồn tại và không ngừng phát triển.
Viện Pasteur Sài Gòn là chi nhánh đầu tiên ngoài nước Pháp của Viện Pasteur Paris. Albert Calmette, một trong những học trò của Louis Pasteur được giao nhiệm vụ thành lập, tổ chức và điều hành viện đầu tiên. Trên một mảnh đất có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, nhưng còn nghèo nàn, lạc hậu, trong một đất nước có khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho nhiều dịch bệnh hoành hành, Albert Calmette đã khởi đầu sự nghiệp với đầy rẫy khó khăn về vật chất, kỹ thuật. Sau khi tiếp nhận một phòng thí nghiệm đơn sơ tại Viện Quân y Grall, Albert Calmette đã tiếp nhận những dụng cụ chuyên môn, hóachất… từ bên Pháp chuyển sang, đã đào tạo những nhân viên kỹ thuật đầu tiên để khai triển công việc. Với không đầy 3 năm ở Sài Gòn, ông đã khởi đầu và hoàn thành một khối lượng công việc đồ sộ, vừa xây dựng cơ sở vừa cải tiến kỹ thuật để làm một số xét nghiệm chẩn đoán bệnh và sản xuất được vắc xin đậu mùa, vắc xin chống bệnh dại, nghiên cứu về bệnh lý nhiệt đới, làm men rượu, sản xuất huyết thanh chống nọc rắn hổ mang. Năm 1893 ông bị bệnh nặng, phải về nước, nhưng ông đã mở đường, đặt sự nghiệp Pasteur trên một nền tảng vững chắc tại Viện Pasteur Sài Gòn.

 

Cùng thời với Albert Calmette, nhà bác học Alexandre Yersin, đồng thời cũng là một nhà thám hiểm, đã phát hiện ra cao nguyên Lâm Đồng và vi khuẩn dịch hạch (1894)
Cơ sở đầu tiên ở Grall quá nhỏ hẹp, nên Viện đã được đầu tư xây dựng cơ sở mới tại vị trí hiện nay. Từ năm 1905 Viện được đưa vào hệ thống quản lý chung do Viện Pasteur Paris phụ trách. Năm 1918, Nol Bernard được giao nhiệm vụ mở rộng hoạt động của các phòng sở ở Viện.
Phòng thí nghiệm thời Pháp
Tiêm ngừa Dại thời Pháp

 

Năm 1925 Viện Pasteur Hà Nội, năm 1936 Viện Pasteur Đà Lạt được thành lập. Từ đây, toàn bộ các Viện Pasteur ở Đông Dương được đặt dưới sự chỉ đạo của Viện Pasteur Paris để đảm bảo chất lượng và uy tín của các nghiên cứu khoa học. Các Viện Pasteur Đông Dương bước vào thời kỳ phát triển ổn định, được đánh dấu bằng nhiều công trình khoa học trong nhiều lĩnh vực. Các nghiên cứu của 2 Viện Pasteur Sài Gòn (do Ch. Broquet, F. Noc, Denier, Nol Bernard, Bablet, Boez, Mesnard, Marneffe làm viện trưởng) và Viện Pasteur Hà Nội (do Mesnard, Genevray, Dodero làm viện trưởng) tập trung vào các bệnh kiết lỵ, dịch hạch, các bệnh có nguồn gốc từ thực phẩm, bệnh giun chỉ, sốt chấy rận, bệnh phong, đặc biệt là bệnh thổ tảvà bệnh sốt rét là 2 bệnh từ lâu gây hiểm họa đối với vùng Đông Dương, kìm hãm sự phát triển kinh tế của khu vực. Những nghiên cứu về vi trùng học, ký sinh trùng, côn trùng, sinh hóa của đất nước và con người Việt Nam được thống kê khá đầy đủ, đây là một di sản quý báu cho sự nghiệp nghiên cứu vi sinh, dịch tễ về sau.
BS. Nguyễn Văn Hưởng
Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế

 

Năm 1939, Pháp bị phát xít Đức đánh bại và chiếm đóng nên việc đầu tư từ nước Pháp, việc trao đổi chuyên gia v.v… bị hạn chế. Nhưng nhờ có qui chế tự trị cao nên các họat Pháp của Viện Pasteur Sài Gòn vẫn được duy trì.

 

Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công, đất nước ta đã tiếp nhận một nền y tế nghèo nàn, chủ yếu ở các đô thị. Trên 90% dân số ở nông thôn hoàn toàn không có một tổ chức y tế nào phục vụ. Người dân khi bị bệnh tật phải tự lo liệu lấy bằng mọi cách kể cả các bài thuốc dân gian, thậm chí duy tâm, lạc hậu. Theo tiếng gọi của tổ quốc, nhiều bác sĩ, y tá được đào tạo dưới thời Pháp thuộc, nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, với lòng tin mãnh liệt vào lý tưởng, mục tiêu của Cách Mạng, họ đã lên đường tham gia kháng chiến, Bs. Nguyễn Văn Hưởng là một trong những tấm gương tiêu biểu đó.

 

Năm 1954, sau khi hiệp định Genève được ký kết, đất nước tạm thời chia làm 2 miền, một số cán bộ y tế miền Nam được tập kết ra miền Bắc, trong đó có một số cán bộ công tác ở phòng sản xuất vắc xin, phần lớn cán bộ y tế Nam Bộ ở lại tiếp tục bám đất, bám dân, phục vụ Cách Mạng. Năm 1959 – 1960, phong trào đồng khởi ở Bến Tre lên cao. Trước sự phát triển lực lượng của Cách Mạng, tổ chức y tế ở cấp khu, cấp tỉnh lần lượt được hình thành để phục vụ sức khỏe cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. 
Nhân viên C4 sản xuất vắc xin Tả, TAB  tại căn cứ Cí Phèn năm 1971

 

Ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, tổ chức Hội đồng Quân Dân y của Mặt Trận cũng được thành lập. 
Năm 1964 tách riêng hệ dân y thành Ban Dân Y Miền (có bí danh là D416, C514 và cuối cùng là BS.67) với các đơn vị trực thuộc, trong đó có Phòng Vi Trùng Học (C4) do Bs. Cao Minh Tân phụ trách. Bs. Cao Minh Tân cùng 3 bác sĩ khác trong đó có Bs. Nguyễn Hồng Sáu, Bs. Đặng Chánh Thanh, đó là những người đã từng trực tiếp tham gia sản xuất vắc xin ở bưng biền trong kháng chiến chống Pháp, năm 1954 được tập kết ra miền Bắc, cuối năm 1963 là những cán bộ đầu tiên được điều về Nam để xây dựng phòng vi trùng học và tổ chức sản xuất vắc xin phục vụ kháng chiến. Sau 6 tháng vượt Trường Sơn với bao gian lao, vất vả, các cán bộ trên đã về tới căn cứ với những trang thiết bị tối cần thiết (tài liệu chuyên môn, giống vi trùng, kính hiển vi vv...) để có thể triển khai công việc được ngay.
 
Đầu tháng 4/1975 Bs. Nguyễn Dũng Hiếu cùng với 3 cán bộ chuyên môn của C4 được Ban Dân Y Miền cử đi tiếp quản Viện Pasteur Đà Lạt vừa mới được giải phóng.
 
Trung tuần tháng 4/1975 trước tình hình chiến thắng đã cận kề, Ban Dân Y Nam Bộ đã thành lập một đơn vị mới gồm đại diện của tất cả các đơn vị thành viên để chuẩn bị tiếp quản các cơ quan Y Dược của chế độ cũ ở Sài Gòn. Phòng vi trùng học được cử 2 cán bộ là Bs. Cao Minh Tân, Ks. Nguyễn Văn Kình phối hợp với 2 cán bộ của phòng sốt rét là Ys. Phạm Hải và Trần Khánh Tiên thành tổ tiếp quản Viện Pasteur Sài Gòn do Bs. Cao Minh Tân phụ trách.
BS. Cao Minh Tân dẫn đầu đoàn cán bộ vào Tiếp quản Viện Pasteur 30/04/1975
BS. CAO MINH TÂN
Viện trưởng viện Pasteur  (1975 – 1985)

 

Ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn được giải phóng, Viện Pasteur Sài Gòn được chính quyền Cách mạng tiếp quản. Sáng ngày 1/5/1975, sau lễ chào cờ (lá cờ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng), Bs. Cao Minh Tân đọc tuyên bố của Chính phủ Cách mạng về chiến thắng của lực lượng Cách mạng, sự đầu hàng vô điều kiện của Chính phủ Sài Gòn và một số chính sách của chính quyền Cách Mạng đối với vùng mới giải phóng, việc tiếp quản Viện Pasteur Sài Gòn chính thức bắt đầu. Do sự hợp tác tốt của cán bộ trong Viện với đoàn tiếp quản nên Viện Pasteur được tiếp quản gần như nguyên vẹn.

 

Những ngày sau đó, hầu hết cán bộ nhân viên của C4 được lần lượt điều về, bố trí vào các phòng, ban để tăng cường cho các bộ phận, trực tiếp tham gia các hoạt động của Viện.
Sau khi ổn định tình hình, dưới sự chỉ đạo của Bộ Y Tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đểhòa nhập vào hệ thống y tế toàn quốc, Viện đã dần dần chuyển giao một số nhiệm vụ cho cơ quan khác (nghiên cứu về muỗi truyền Sốt Rét sang Phân Viện Sốt Rét TP.HCM, chuyển các phòng xét nghiệm vệ sinh nước, thực phẩm, độc ch��t, môi trường về Viện Vệ sinh Y tế công cộng) v.v... Viện tập trung phòng vào nhiệm vụ phòng chống bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh truyền nhiễm gây dịch, sản xuất một số vắc xin, sinh phẩm chẩn đoán, nằm trong mạng lưới các cơ sở vệ sinh dịch tễ, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan chuyên trách khác hỗ trợ 15 tỉnh thành phía Nam xây dựng hệ thống y tế dự phòng. Năm 1976, Viện đổi tên thành Viện Dịch tễ học do Bs. Cao Minh Tân làm viện trưởng.

 

Trong giai đoạn này, ngoài số nhân viên lưu dụng làm việc ở Viện Pasteur trước giải phóng (421 nhân viên, trong đó có 254 người làm về hành chính, hậu cần), Viện được tăng cường số cán bộ từ chiến khu về, nhiều cán bộ Miền Nam tập kết ra Miền Bắc nay được điều trở lại để tăng cường cho vùng mới giải phóng. Lực lượng cán bộ, nhân viên chuyên môn khá hùng hậu, được đào tạo từ nhiều nguồn: nhiều cán bộ được đào tạo ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) một số cán bộ được đào tạo ở nước ngoài (khối các nước XHCN) và cả những cán bộ được đào tạo ở các nước tư bản trước giải phóng (chủ yếu là Pháp và Mỹ). Tất cả cán bộ nhân viên của Viện đã nhanh chóng hòa nhập đảm bảo cho hoạt động của Viện được liên tục không bị gián đoạn ngày nào và nhanh chóng thích nghi với điều kiện làm việc mới. Để ổn định hoạt động cho phù hợp với cơ chế và nhiệm vụ mới,

 

Viện đã chấn chỉnh dần dần bộ máy, giảm từ 35 phòng xuống còn 18 phòng, thành lập một số đơn vị mới như phòng miễn dịch học, phòng dịch tễ để quản lý và chỉ đạo công tác phòng chống dịch, phòng huấn luyện để đào tạo, bổ túc cán bộ chuyên khoa cho Viện và 15 tỉnh thành phía Nam, giảm bớt số nhân viên khối hành chánh, hậu cần, tăng cường cán bộ chuyên môn trung và cao cấp.

Năm 1979, Viện được đổi lại tên thành Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh. Viện đã kịp thời chuyển hướng, ngoài những hoạt động truyền thống, Viện đã tập trung nghiên cứu khoa học về các bệnh truyền nhiễm gây dịch như bệnh dịch hạch, tả, SXH Dengue, viêm não Nhật Bản, bại liệt vv... và các biện pháp phòng chống dịch, góp phần làm giảm nhanh tỉ lệ mắc và chết do các bệnh dịch nguy hiểm như dịch hạch năm 1977 tỉ lệ chết/mắc là 171/5531 đến năm 1984 tỉ lệ này giảm chỉ còn 2/52; từ 13/15 tỉnh có dịch hạch (1977) xuống còn 3/15 tỉnh (1984).
 
Trong 8 năm (1977 – 1985) Viện đã mở 7 khóa với trên 300 học viên, bổ túc cho trên 600 cán bộ, nhân viên của Viện và các tỉnh gởi về, đào tạo 182 bác sĩ sơ bộ chuyên khoa VSDT. Những cán bộ này là lực lượng nòng cốt để xây dựng và phát triển mạng lưới vệ sinh phòng dịch cho 15 tỉnh thành phía Nam. Nhiều cán bộ của Viện được cắm xuống tận cơ sở, giúp các tỉnh xây dựng phòng xét nghiệm, tham gia các hoạt động cộng đồng, hỗ trợ vật tư, kỹ thuật trong công tác phòng và chống dịch. Viện đã bám sát thực địa, góp phần xây dựng hệ thống Trạm Vệ Sinh Phòng Dịch tỉnh (nay là Trung tâm y tế dự phòng) và chỉ đạo chuyên môn cho 15 tỉnh thành phía Nam. Giai đoạn này Viện được phép đào tạo và cấp bằng kỹ thuật viên trung cấp Vệ Sinh Dịch Tễ (VSDT).
 
Tháng 8/1985, Gs. Hạ Bá Khiêm, nguyên Viện trưởng Viện Vắc xin Nha Trang, được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Pasteur TP.HCM. Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Viện Pasteur TP.HCM từ nhiều năm đã tiếp nhận những nguồn viện trợ lớn có hiệu quả, trực tiếp hay gián tiếp từ các cơ quan của Liên Hiệp Quốc như WHO, UNICEF và các nước bạn bè, của nhiều tổ chức phi chính phủ Pháp, Thụy Sỹ như Hội hữu nghị Pháp – Việt v.v…
 
Năm 1986 – 1988, với sự tài trợ của hội hữu nghị Pháp – Việt, labo sản xuất vắc – xin BCG mới đã được xây dựng và trang bị lại tại Viện trên cơ sở labo BCG của Albert Calmette với sự hỗ trợ kỹ thuật của viện Pasteur Paris, tháng 4/1988 labo sản xuất vắc – xin BCG được khánh thành và đi vào hoạt động.

 

Năm 2000, Việt nam đã được WHO công nhận thanh toán bại liệt. Chương trình tiêm chủng mở rộng khu vực phía Nam do viện trưởng làm chủ nhiệm với ban thư ký của chương trình là các cán bộ của nhóm TCMR đã đóng vai trò tích cực cho thành công này.
Trong giai đoạn 1996 – 2000, do sự đầu tư của Nhà nước cộng với sự nhạy bén, chủ động hợp tác quốc tế, Viện Pasteur TP.HCM đã triển khai 46 đề tài nghiên cứu khoa học tập trung vào những vấn đề như: HIV/AIDS, SXH Dengue, viêm não Nhật Bản, viêm gan, thương hàn, tiêu chảy, bại liệt, sởi, cúm, Leptospira, vi khuẩn đường ruột,Rotavirus vv... các đề tài hợp tác với các tổ chức quốc tế như ANRS (Cơ quan nghiên cứu quốc gia Pháp về HIV/AIDS), ACIP (Tổ chức các hoạt động liên Viện Pasteur trên thế giới), AIRE Développement (Tổ chức đầu tư nghiên cứu tại nước ngoài của Pháp) Trường Đại học Trois Rivires, Québec, Canada; Hợp tác với Nhật Bản (Đại học Tokyo, AAR, NIID), CDC (Hoa Kỳ), NIH (Viện nghiên cứu sứckhỏe Hoa Kỳ), US NAMRU 2 (đơn vị nghiên cứu y học hải quân Mỹ) SLCD (Ủy ban hỗ trợ và hợp tác Bỉ.

 

Tháng 12/2001, Ts. Nguyễn Thị Kim Tiến, một cán bộ trẻ, được đào tạo hệ thống và trưởng thành trong các hoạt động thuộc hệ y tế dự phòng được bổ nhiệm làm viện trưởng Viện Pasteur TP.HCM. Kế thừa truyền thống và những thành tựu đã đạt được qua nhiều năm phấn đấu, tập thể lãnh đạo trẻ của Viện cùng toàn thể cán bộ nhân viên trong cơ quan tiếp tục phấn đấu, xây dựng Viện Pasteur TP.HCM thành một trung tâm y tế chuyên sâu, đầu ngành về y học dự phòng của khu vực phía Nam ngang tầm với các Viện trong khu vực thế giới.
 
Tháng 07 /2013. Lần đầu tiên tại Việt Nam phát hiện vi rút entero 71 gây bệnh chân-tay-miệng và Viêm não cấp ở trẻ em.
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho Viện Pasteur Tp.HCM năm 2015

 

Năm   2003 – 2004 :Trong vụ dịch, Viện Pasteur đã giám sát và phát hiện vi rút cúm A/H5N1 gây bệnh viêm phổi cấp trên người.
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho Viện Pasteur Tp.HCM năm 2015

 

Sáng ngày 28/06/2015, Viện Pasteur Tp.HCM đã long trọng tổ chức lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động - phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước nhằm ghi nhận những đóng góp to lớn của Viện trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.
 
 

Huy Đức - Kyluc.vn (VietKings)-Tổng hợp (Hình ảnh:Internet)

 

Bảo tàng Kỷ lục Việt Nam mobile
Pepsi
VQG Phong Nha
Bia hơi Hà Nội
Vietjetair
Công viên châu Á
Nissin
Làng sen Việt Nam
Tổ chức Kỷ lục Châu Á
THE FUTURE IS NOWI
Viện Top Thế giới
Tổ chức Kỷ lục Đông Dương
VINHOME
Tổ chức Kỷ lục Hoa Kỳ