Check in Việt Nam (P.15): Phở - Thương hiệu ẩm thực Việt

14-08-2019

(VietTop) Phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam, cũng có thể xem là một trong những món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực Việt Nam. Thành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng (hay nước lèo theo cách gọi miền Nam) cùng với thịt bò hoặc gà cắt lát mỏng. Ngoài ra còn kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt,… Những gia vị này được thêm vào tùy theo khẩu vị của từng người dùng.

 

Phở Hà Nội (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Một số giả thuyết cho rằng phở xuất hiện đầu tiên ở Nam Định, nhưng Hà Nội lại là nơi làm cho món ăn dân dã này trở nên nổi tiếng như ngày nay, một số giả thuyết khác nhìn nhận phở như một đặc trưng ẩm thực Hà Thành.

 

 

Phở (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Phở bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam, xâm nhập vào miền Trung và miền Nam giữa thập niên 1950, sau sự thất bại của Pháp ở Đông Dương và Việt Nam bị chia thành hai miền. Người Việt Nam ở phía bắc di cư vào miền Nam năm 1954 mang theo món phở và phở đã bắt đầu có những sự khác biệt. Phở thông thường dùng làm món ăn điểm tâm sáng hoặc tối.

 

 

Nguyên liệu dùng để nấu phở (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Nước dùng nói chung được làm bằng việc hầm xương bò, thịt dùng cho món phở là thịt bò hoặc gà và gia vị bao gồm quế, hồi, gừng, thảo quả, đinh hương, hạt mùi,… “Bánh phở”, theo truyền thống, được làm từ bột gạo, tráng thành tấm mỏng rồi cắt thành sợi. Phở luôn phải ăn nóng mới ngon, tuy nhiên, để có được những bát phở ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết truyền thống của nghề nấu phở.

 

 

Phở bò (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Ngày nay, phở đã có những phương pháp chế biến và hương vị khác nhau. Tại Việt Nam, có những tên gọi để phân biệt chúng là: Phở Bắc (ở miền Bắc), phở Huế (ở miền Trung) và phở Sài Gòn (ở miền Nam). Thông thường thì phở miền Bắc đặc trưng bởi vị mặn còn miền Nam thì ngọt. Bánh phở ở miền Nam nhỏ hơn ở miền Bắc. Ở các tỉnh phía Nam Việt Nam, phở được bày biện với những thành phần phụ gọi là rau thơm như hành, giá và những lá cây rau mùi, rau húng, trong đó ngò gai là loại lá đặc trưng của phở.  Phở thường là phở bò, nhưng cũng có phở gà, phở heo, phở tôm,… 

 

 

Phở gà ta (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Trước đây, chỉ có phở bò chín với đầy đủ “chín-bắp-nạm-gầu”, về sau thực khách chấp nhận cả phở tái, phở gà. Đi xa hơn, có nhà hàng thử nghiệm với cả thịt vịt, ngan nhưng không mấy thành công. Ngoài ra còn một số món được biến tấu từ nguyên liệu bánh phở truyền thống như phở cuốn, loại phở xuất hiện vào thập niên 1970 là phở xào, của thập niên 1980 là phở rán,…

 

Phở xào (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Phở rán (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Những quán phở Việt Nam vẫn giữ những thói quen là ít khi mang thực đơn cho khách hàng mà khách sẽ phải tự chọn loại phở gì (ví dụ: phở bò, phở gà…). Phở được đựng trong tô. Thông thường thì những bàn ăn được đánh số để phục vụ, trên đó có sẵn đũa, muỗng và những gia vị kèm theo phở như: tương, chanh, nước mắm, ớt,…

 

Phở Hà Nội (Ảnh nguồn Intrenet)

 

 

Người Việt tự hào vì đã sản sinh ra món Phở không những được quốc tế công nhận mà còn vinh dự đứng trong trong từ điển tiếng Anh. Ngẫm lại thứ quà sáng tưởng chừng là mộc mạc, đơn sơ như Phở lại được nấu rất cầu kỳ và tốn bao công sức của đôi bàn tay của những đầu bếp tài ba. Nước phở trong nhưng phải sánh ngon, bánh phở mềm nhưng phải dai hòa quyện với miếng thịt ngọt mềm và chút hành thơm không thể lẫn vào đâu được. Quả thật phở không hổ danh là thương hiệu ẩm thực của Việt Nam, góp phần đưa ẩm thực Việt Nam vươn tầm thế giới.


Trung tâm Top Việt Nam (tổng hợp, nguồn hình internet)

 

Bảo tàng Kỷ lục Việt Nam mobile
Pepsi
VQG Phong Nha
Tổ chức Kỷ lục Châu Á
THE FUTURE IS NOWI
Viện Top Thế giới
Tổ chức Kỷ lục Đông Dương
VINHOME
Tổ chức Kỷ lục Hoa Kỳ