Giáo sư Ngô Xuân Bính: Y học và Võ học là then chốt của sức khỏe con người

17-11-2014

(Kỷ lục Vietkings) Là người chuyên nghiên cứu về lĩnh vực y học dân tộc để chăm lo sức khỏe cho cộng đồng, ông đã được Hiệp hội Y học dân tộc Nga (RANM) trao tặng danh hiệu “Giáo sư y học dân tộc” và Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên Châu Âu phong hàm Viện sĩ. Người thầy thuốc Ngô Xuân Bính ngoài tài châm cứu, bắt mạch, kê toa... còn là một Võ sư danh tiếng có công tâm trong việc phục hưng và bảo tồn môn phái võ Nhất Nam.

Biên tập viên Cẩm nang Thông tin kỷ lục Việt Nam đã có cuộc điện đàm đầy thú vị với ông xung quanh việc hai bộ sách về Y học và Võ học mà ông đã dày công biên soạn...

Chào ông, xin ông cho biết đôi nét về tiểu sử bản thân mình?

GS Ngô Xuân Bính: Tôi sinh ngày 17/01/1957 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Thời tiểu học và THCS học tại thành phố Vinh, lên THPT học chuyên Toán, sau đó ra Hà Nội thi vào trường Đại học Sư phạm nhạc họa; Đại học Mỹ thuật. Ra trường, tôi được giữ lại làm Giảng viên Trường Đại học Sư phạm nhạc họa từ năm 1980 – 1990.

Từ năm 1990 – 2014 là chuyên gia Võ thuật và Y tế tại các nước Liên Xô cũ. Hiện nay, tôi làm việc tại Liên bang Nga và huấn luyện võ thuật cho các võ đường môn phái Nhất Nam tại Việt Nam.



Giáo sư Ngô Xuân Bính

Công việc, nghề nghiệp đầu tiên của giáo sư là gì? Cơ duyên nào đưa ông đến với lĩnh vực võ học và y học?

GS Ngô Xuân Bính: Công việc đầu tiên của tôi là Giảng viên Trường đại học Sư phạm Nhạc họa Hà Nội từ năm 1980 – 1990. Đến với võ thuật là nhờ những tương tác trực tiếp từ truyền thống gia đình và dòng họ. Đặc biệt là dòng họ Ngô và Trần ở Nghệ An – Thanh Hóa. Từ thời thơ ấu 15 – 16 tuổi, thấy triển vọng năng lực đặc biệt nên nhiều thầy trong dòng họ đã dồn tâm sức ngày ngày, đêm đêm dạy gần hết các môn công. Đặc biệt thời kỳ học chuyên toán cấp III, những kiến thức y học phương Đông bắt đầu dần từ đây. Tôi còn nhớ mãi kỷ niệm năm lên 16 tuổi, trong một tình huống đã bắt buộc tôi tham gia đỡ đẻ cho bà chủ nhà, nơi mà học sinh sơ tán, vì gấp rút quá không kịp đưa bà đến trạm xá cấp cứu đẻ.

Năm 17 tuổi, được sự khuyến khích của các thầy, tôi bắt đầu hướng dẫn dạy võ thuật, y thuật cho các bạn học cùng lớp và đây cũng là những tư liệu quý giá cho việc viết các tài liệu võ thuật và y tế sau này. Bắt đầu từ đó việc dạy và chữa bệnh cho các bạn học sinh viên tiến hành thường xuyên.

Từ năm 1978 bắt đầu có những cộng tác viên chính thức tích cực với Sở Thể dục - Thể thao và Tổng cục Thể dục - Thể thao về nghiên cứu võ thuật Việt Nam. Nhận các chuyên đề từ Tổng cục Thể dục - Thể thao về lịch sử văn học, võ học Việt Nam và trò chơi thể dục thể thao dân gian. Năm 1980, tôi đã nhận chữa bệnh cho một số nhà lãnh đạo, được Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ cho phép khám và chữa cho Tổng Bí thư Lào – Ông Cayxon Phong Vi Han.

Năm 20 tuổi, tôi đã hoàn thành bản thảo bộ sách võ thuật Nhất Nam căn bản (tập I – II). Hai quyển sách này đã đạt Giải nhất tại Triển lãm sách Thể dục thể thao Quốc tế ở Ba Lan năm 1985.

Ông đã viết bộ sách võ "NHẤT NAM CĂN BẢN” (5 tập) bằng công phu sưu tầm, tìm hiểu thế nào, bắt nguồn từ mục đích và nguyện vọng gì?

GS Ngô Xuân Bính:
Bộ sách Nhất Nam căn bản là tâm nguyện, ý thức và tấm lòng của tôi vì hiểu giá trị lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; nền văn hiến và truyền thống văn hóa sâu sắc riêng biệt của người Việt. Trân trọng kính phục ông cha giữ đất giữ làng, bảo lưu nét riêng của người Việt sau hàng nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Truyền thống thượng võ của người Việt tạo nên cốt cách một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường bảo vệ lãnh thổ của mình trước những tham vọng thôn tính, đồng hóa dân tộc ta của những nước lớn trong khu vực. Càng hoạt động đi sâu nghiên cứu viết sách, tôi càng ý thức và nhận định được chính sách – quốc sách về vấn đề con người của một quốc gia quan trọng như thế nào.



Bộ sách Nhất Nam căn bản

Việc bảo lưu, duy trì, khuyến khích những giá trị văn hóa phi vật thể đóng góp phần to lớn cho thế hệ trẻ biết trân trọng, yêu quý và tự hào về đất nước, dân tộc mình; có trách nhiệm cộng đồng tạo nên nguồn lực tinh thần , khí tiết thần khí của một quốc gia, đi sâu vào môn phái Nhất Nam và các môn phái võ khác. Tính kỷ luật, quy môn, đồng đội, những giá trị nhân phẩm và lòng tự trọng. Năng lực tự rèn luyện khả năng thực hiện mục đích lý tưởng hết sức cao cả. Đặc biệt những người có trí tuệ, có nhân cách thì việc tập võ công như chắp thêm cánh cho họ trong những bước đường gian lao của công việc và sự thành công sau này. Hơn nữa, việc tập võ đặc biệt theo hướng dưỡng sinh không mất thời gian, đầu tư về vật chất mà lại có khả năng phòng bệnh, tự phục hồi điều chỉnh các cơ năng…cùng với yếu tố tinh thần, khả năng tự kiềm chế để chống lại sự thay đổi môi trường, áp lực công việc là giá trị vô giá của mỗi quốc gia (giảm nguồn thuốc, áp lực bệnh viện, tăng khối lượng giờ làm việc).

Chính sách lớn của một quốc gia phải tính đến rất nhiều yếu tố, đặc biệt làm giàu và phát triển kinh tế, nhưng chính sách về con người (trồng người) phải tính ngay từ ngày hôm nay và luôn cả sau này.

Ông đánh giá thế nào về ưu điểm môn võ NHẤT NAM so với các môn võ cổ truyền Việt Nam khác và những môn võ trên thế giới?

GS Ngô Xuân Bính:
Lịch sử võ thuật nước ta đã có từ hàng nghìn năm trước, ví dụ đơn giản là từ kỹ thuật kiếm sống bằng cách săn bắn đến tự vệ mang tính bản năng nguyên thủy…Việc hình thành các bộ tộc cao hơn việc hình thành quốc gia, dẫn đến tranh chấp lãnh thổ. Vai trò vị trí ảnh hưởng đặc biệt như nguồn săn bắn, nguồn lợi kinh tế bắt buộc các bộ tộc, quốc gia phải hình thành các đội quân chuyên nghiệp để chống lại sự tranh giành. Việc tổng kết để đưa ra các kỹ thuật có hiệu quả với các vũ khí lạnh đã thúc đẩy việc hình thành quân đội. Những người thầy, người tài giỏi đi sâu nghiên cứu những bí mật kỹ thuật của môn phái dòng họ bắt đầu hình thành bảo lưu hàng nghìn năm.


Người Việt Nam thể chất nhỏ bé, địa hình canh tác kiếm sống trên vùng đất đai lúa nước chật hẹp, sông rạch bờ mương chằng chịt. Khí hậu nói chung nóng ẩm, kinh tế phát triển không cao. Người Việt tay chân ngắn, thể chất yếu, không có phương tiện che bọc, bảo hiểm, chiến đấu chủ yếu bằng kỹ thuật bộ binh, thủy binh, bởi vậy những phương thức tập luyện của các tộc người Việt chủ yếu lấy đoản đòn, áp đòn đánh nhanh, rút nhanh, né nhanh, áp nhanh và độc chiêu đánh vào chỗ hiểm. Sau hàng trăm năm vì sự sinh tồn và bảo vệ lãnh thổ, các môn phái võ thuần Việt đặc biệt là môn Nhất Nam có nguồn gốc từ Châu Hoan, Châu Ái cổ, là đất bản địa của người Việt (những cấm binh quân bảo vệ vua bao đời đều được tuyển chọn từ vùng Thanh, Nghệ cũ). Võ Nhất Nam trước gọi là "Võ Hét”, "Võ Khố” là cách gọi nôm na dân gian bằng cách quan sát nghe thấy bên ngoài, được bảo lưu không khoa trương lối đánh, không giữ thành cố thủ của các vua chúa tướng lĩnh người Việt. Bởi vậy, ngay kinh đô của nước Đại Việt thời Lý, Trần thành không cao, hào không sâu quân thường trực không nhiều, giặc đến thì rút lui chỉ khi có chiến tranh thì tuyển quân từ làng, xã (hôm nay cầm cày, ngày mai là lính…) Đây là yếu tố cơ bản, cốt lõi vừa mang tính triết học, bác học vừa dân giã đúc kết khách quan dân gian các thủ pháp lách, né tránh cương đòn, các thủ pháp (thân pháp) dùng nhu công lách không đối đòn trực giao dẫn đến phương pháp chiến thuật tập luyện tránh đối đòn, lách né áp công làm gốc, dùng kỹ thuật nhu công, xoắn quấn làm gốc. Khi không cần thiết dùng kỹ thuật lôi công, lách công, áp thủ công làm gốc, dùng binh khí nhẹ, ngắn… Bởi vậy những môn võ đòn thế có xu hướng cương cường khoa trương lạm dụng kỹ thuật ngạch công, cương công hay hình thức thi võ thời Nguyễn thường là du nhập trong hai, ba trăm năm gần đây của các môn phái Trung Quốc (trong thời kỳ vũ khí nóng đã phát triển và mang tính chủ đạo trong nghệ thuật chiến tranh…) Do vậy, những ưu điểm của môn phái Nhất Nam là:
  • Phù hợp với thể chất người Việt
  • Tập không bị phá sức, phí sức, chứa đựng nhiều yếu tố dưỡng sinh vì vấn đề sức khỏe lâu dài
  • Có nhiều bài tập phù hợp với các đối tượng, đặc biệt dưỡng sinh
  • Hình thức tập có thể mang tính cá nhân, tập thể, ngoài tính chất thể thao, tự vệ thì tính hội lễ cao phù hợp cho các hoạt động văn hóa xã hội, đặc biệt đối với người cao tuổi từ 50 – 60 đến 80 – 90 tuổi. Các bài dưỡng sinh phổ cập tại Nghệ An – Thanh Hóa đã lên đến hàng chục nghìn người.
  • Tính riêng biệt kỹ thuật đòn thế tạo những nét đặc trưng của người Việt, là nét riêng để tham gia hội lễ văn hóa giao lưu trên Thế giới.
  • Bộ luật thi đấu Nhất Nam nếu được điều chỉnh, điểm thắng thua lấy sự khéo léo, tinh tế làm mốc chấm thì có thể tìm được hình thức thi đấu mới đẹp, thân thiện, có tính vũ đạo đối lập với các hình thức thi đấu mang tính sát phạt ngày này (thi đấu thể thao không phải là gà chọi).
Còn bộ sách "TĂNG HUYẾT ÁP CÁC CHỨNG LIÊN ĐỚI – Chuyên khoa châm cứu” là bộ sách đồ sộ gồm 3 tập (mỗi tập dày gần 1.500 trang), ông đã viết trong thời gian bao lâu, có khó khăn, trở ngại gì trong việc hoàn thành bộ sách này?

GS Ngô Xuân Bính:
Công trình khoa học "Huyết áp cao – Các chứng liên đới” (Chuyên khoa châm cứu) được triển khai viết thực hiện hơn 20 năm, được thay đi thay lại nhiều lần bản thảo. Đặc biệt phần ứng dụng thực hành (các bộ huyệt, dẫn huyệt các cách thức phối hợp…) do viết ở nước ngoài, khảo nghiệm ở nước ngoài và bảo vệ ở nước ngoài nên công trình có những thuận lợi và những khó khăn rất lớn:
Về mặt thuận lợi, đó là được khảo sát trên diện bệnh nhân rộng, đa dạng được tiếp xúc tranh luận phân giải, học hỏi với các bậc thầy đầu ngành: tim mạch, gan thận, tiêu hóa, các bệnh hiểm hóc như đái đường hen suyễn, viêm phổi rối loạn nội tiết, suy kiệt cơ thể mất dần khả năng kiểm soát và đặc biệt là các thầy thuốc đầu ngành về hóa dược (thuốc) các chuyên gia số 1 về xét nghiệm, chuyên gia cấp cứu hồi sức. Các bậc thầy về bệnh học kèm với điều kiện cơ sở vật chất đo, rọi, xét nghiệm hiện đại. Cùng đồng thời quá trình hội chẩn với các bác sĩ đầu ngành của thế giới trong nhiều năm. Đó là cơ hội may mắn giúp tôi có những bài học vô giá, giúp tôi trong quá trình điều trị bệnh nhân và viết công trình khoa học "Huyết áp cao – Các chứng liên đới” của mình.



Còn về mặt khó khăn, ở những quốc gia phát triển có nền khoa học vững chắc, những phương thức, cách thức đòi hỏi lộ trình chặt chẽ đúng luật, đặc biệt những vấn đề y tế và con người. Lộ trình các bước và thời gian kiểm chứng đòi hỏi đúng luật, đúng nguyên tắc khoa học. Hồ sơ bệnh án, tiến trình điều trị kết quả lâm sàng thời gian và những biến chứng di chứng có hoặc không. Tương tác của quá trình chữa dẫn đến những biến đổi sinh hóa trước mắt và lâu dài, tương tác với các nhóm thuốc đã dùng, đang dùng và sẽ dùng – sự kết hợp giữa bệnh học phương Đông, phương Tây là một sáng tạo. Việc tận dụng tri thức mới của các lĩnh vực khoa học để xét nghiệm theo dõi, chẩn đoán xác định gốc của bệnh tật, tìm ra nguyên nhân chính và phác đồ điều trị được vận dụng sát sao không mang tính lý thuyết là những điểm lý thú đang được khai thác phát triển trong những công trình tiếp theo.

Giá trị mới và lớn nhất của công trình được giới chuyên môn đánh giá độc đáo sáng tạo và có giá trị cho nền y học thế giới, chính là luận điểm tìm ra khẳng định sự dịch chuyển của đường kinh – huyệt đạo thay đổi khác nhau trên cơ sở chứng bệnh khác nhau của từng căn bệnh. Đây là phát hiện đầu tiên thay đổi hoàn toàn nguyên tắc dò huyệt, xác định đúng vị trí của huyệt tìm ra sự phối hợp hệ thống dẫn châm hợp lý đúng cho từng ngày, từng đợt cho những bệnh nhân cụ thể, chứng bệnh cụ thể. Hàng nghìn năm trước cho đến tận hôm nay đây là học thuyết dựa trên những cơ sở biến đổi sinh hóa nội dịch năng lượng thực chất của con người khi bị bệnh. Sự đảo lộn không cân bằng, sự dịch chuyển nguồn năng lượng (năng lượng âm, năng lượng dương) là bản chất phá vỡ thế cân bằng các cơ quan nội tạng của cơ thể, của hệ nội dịch…, chức năng thần kinh thực vật…và hệ điều hành trung ương. Học thuyết giải thích dịch chuyển đường kinh giải thích rất nhiều nguyên do, đặc biệt nhiều thầy thuốc ngày nay tìm ra hàng trăm, hàng nghìn huyệt không nằm trên đường kinh và tìm ra hàng trăm hàng nghìn phối huyệt mới ngoài đường kinh (người ta tạm gọi là huyệt ngoài đường kinh, huyệt mới, huyệt mở…) thực ra đây không phải huyệt mới, huyệt ngoài đường kinh mà do đường kinh dịch chuyển huyệt trên đường kinh dịch chuyển theo.

Được biết, ông là người được Nhà nước - Nga phong tặng Học hàm Giáo sư - Viện sĩ, ông có thể nói rõ hơn về việc này?

GS Ngô Xuân Bính:
Quá trình chữa hàng nghìn bệnh nhân có hiệu quả, cộng với quá trình đọc báo cáo tại các Hội nghị Khoa học cũng như các Nhóm nghiên cứu tiến hành các Công trình khoa học ứng dụng (môi trường lặn, sức khỏe và biến đổi sinh lý tâm lý, hậu chứng của con người làm việc trong môi trường không trọng lượng phương pháp điều chỉnh khắc phục các tác hại của các chuyên viên làm việc trong môi trường nhiễm xạ) Đặc biệt công trình "Huyết áp cao – Các chứng liên đới” (Chuyên khoa châm cứu) thực chất là động chạm đến tất cả các bệnh mà phương thức châm cứu có khả năng trị liệu. Đây là công trình được tìm kiểm tỉ mỉ hơn năm năm để cuối cùng Hội đồng Khoa học và Ủy ban Khoa học của Qũy Tổng thống Enxim (Nga) cho phép làm tài liệu ứng dụng thực hành cho các Bác sĩ toàn Liên bang về châm cứu (đây không phải là vinh dự đóng góp của cá nhân tôi mà là niềm vinh quang của khoa học nước nhà mà nhiều khi chúng ta chưa đánh giá hết).

Đánh giá những thành công (dưới góc độ khoa học và góc độ chăm sóc sức khỏe cộng đồng) Hiệp hội Y học dân tộc của Nga đã phong hàm Giáo sư y học dân tộc trước sự chứng kiến của các Nhà khoa học, Đại diện nước Nga và Đại sứ đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Nga.

Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên Châu Âu kết hợp với Ủy ban Phong tặng của Liên hợp quốc đã trao Huân chương "Nicolai-Piregov” vì những đóng góp lớn lao cho nền y học thế giới. Đồng thời được Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên Châu Âu phong Hàm Viện sĩ.
Và sắp tới, vào ngày 29/11/2014, bản thân tôi sẽ vinh dự được trao Huân chương Quốc tế "Nghề nghiệp và Cuộc sống” là Huân chương cho đóng góp lớn lao trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Những hoạt động của ông ở Việt Nam cũng như ở Nga hiện nay là gì?

GS Ngô Xuân Bính:
Hiện nay, công việc chủ yếu là ở Nga: Chữa bệnh, hoàn thành tiếp các công trình khoa học. Song song, duy trì các hoạt động phát triển môn phái võ Nhất Nam ở Châu Âu. Tham gia các hoạt động nghiên cưu, báo cáo khoa học và giảng dạy y tế. Ở Việt Nam do thời gian hạn chế chỉ tham gia một số hoạt động như: Tổ chức hội thảo; Huấn luyện võ Nhất Nam; Trao đổi cùng các đồng nghiệp về lĩnh vực y tế; Tham gia tổ chức nghiên cứu khoa học văn hóa xã hội…

Quá trình tạo lập và xây dựng sự nghiệp võ học cũng như y học có những khó khăn, thử thách nào, GS hãy cho biết những mốc son mang tính bước ngoặt trong cuộc đời mình?

GS Ngô Xuân Bính:
Mọi công việc đều có sự khó khăn, thử thách. Những người có trách nhiệm và chu đáo thì khó khăn và áp lực càng lớn. Không riêng gì tôi, mà từ người nông dân làm việc trên cánh đồng đến công nhân trong nhà máy, từ người làm việc ngoài xã hội đến người nội trợ trong gia đình, ai ai cũng đều vất vả, bận tâm, chỉ khác nhau một điều là: người nhìn về tương lai tìm thấy niềm vui của công việc giá trị của nó thì đều phấn chấn và cố gắng. Hàng năm tôi nhận được các Danh hiệu và Huân chương đánh giá những đóng góp của tôi đều là những mốc son đáng nhớ trong cuộc đời tôi.

Chân thành cảm ơn Giáo sư! Kính chúc GS luôn khỏe mạnh để tiếp tục con đường đã và đang đi!

Trương Như Bá
(kyluc.vn)






Bảo tàng Kỷ lục Việt Nam mobile
Pepsi
VQG Phong Nha
Bia hơi Hà Nội
Vietjetair
Công viên châu Á
Nissin
Làng sen Việt Nam
Tổ chức Kỷ lục Châu Á
THE FUTURE IS NOWI
Viện Top Thế giới
Tổ chức Kỷ lục Đông Dương
VINHOME
Tổ chức Kỷ lục Hoa Kỳ