Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế - 50 năm đến với Truyện Kiều

23-04-2016

(Vietkings) Đối với Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế, có lẽ đến với Truyện Kiều phải có một mối lương duyên, không chỉ là duyên mà còn là nợ nên phải đeo đẳng suốt đời để đến được thành công...

 

TRUYỆN KIỀU TRONG KÝ ỨC TUỔI THƠ

Sinh trưởng ở nông thôn, cậu bé Phạm Đan Quế được thừa hưởng cách gìn giữ hồn Việt truyền thống trong các gia đình yêu văn học ở thế kỷ trước: từ 6 -10 tuổi được khích lệ hoặc bắt buộc phải học thuộc mấy trang thơ văn học cổ, mà đặc biệt là Truyện Kiều. Ngoài ra, cậu bé Phạm Đan Quế còn bị bắt buộc phải học thuộc mấy trang từ điển tiếng Pháp. Thủa nhỏ cậu đã thuộc được đến gần nửa Truyện Kiều, những câu khắc sâu vào ký ức vì chỉ biết học thuộc mà vẫn thấy những chữ đó nó lạ lạ thế nào nên càng nhớ kỹ như:

1015. Kề tai mấy nỗi nằn nì,

Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi.

1017. Vả trong thần mộng mấy lời,

Túc nhân âu cũng có trời ở trong.

Lớn lên, Phạm Đan Quế mới hiểu thị phi rạch ròi thì chính là phải trái rõ ràng. Còn túc nhân lại là nhân duyên, nguyên nhân từ kiếp trước.

Hình ảnh người cha yêu văn chương thường hay phải lên tỉnh, ra Hà Nội để giao du bạn văn và phải đặt mua báo tháng tìm kiếm thông tin, tư liệu, đánh đấu và lưu giữ các bài quan trọng và người anh cả hơn 8 tuổi là học sinh trường Bưởi - một trường học danh giá, đã ăn sâu trong tiềm thức, tâm trí cậu bé Phạm Đan Quế. Đó là tiền đề được mặc định, cài đặt sẵn trong tinh thần và nó cũng định hướng phát triển, thôi thúc một cậu bé vượt qua "bức tường" gia đình để đến với thế giới rộng mở bên ngoài trở thành nhà nghiên cứu nổi tiếng sau này.

HẠT GIỐNG NẢY MẦM

Học tú tài (trung học chuyên khoa) ở Hà Nội (1950-1954), thời Truyện Kiều là tác phẩm chủ yếu trong chương trình giảng dạy văn học và thường được các thầy giáo đi sâu vào nghệ thuật và các điển cố, chữ nghĩa kiểu tầm chương trích cú. Sách giáo khoa lại nhiều loại do nhiều tác giả viết nên những đoạn trích Kiều khá nhiều và được bình giảng rất đa dạng, phong phú. Phạm Đan Quế may mắn được nghe giảng và lĩnh hội kiến thức từ các giáo sư vốn uyên bác về Kiều như Đoàn Phú Tứ, Vũ Hoàng Chương, Lê Văn Hòe... Đó cũng chính là cơ duyên mà những hạt giống văn chương với cái phôi chỉ chứa đựng chất liệu âm hưởng của câu từ hay hay, lạ lạ và do vần điệu thơ lục bát tạo nên được học thuộc lòng từ thủa ấu thơ để cậu bé Phạm Đan Quế có cơ hội nảy mầm.

Trong quyển "Truyện Kiều đọc ngược", ông vẫn nhớ kỷ niệm ở học đường lúcviết: “Vào năm 1953 - có mấy câu Kiều mà chúng tôi còn nhớ mãi, khiđược học Văn học với giáo sư Lê Văn Hòe tại trường trung học chuyên khoa Minh Tân - đường Trần Hưng Đạo - Hà Nội, giáo sư có đọc đoạn tập Kiều sau đây theo lối đọc ngược:

3253.  Lời quê chắp nhặt dông dài,

           Mua vui cũng được một vài trống canh.

3119.  Như nàng lấy hiếu làm trinh,

           Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

3209. Tẻ vui bởi tại lòng này,

           Hay là khổ tận đến ngày cam lai?

3247. Có tài mà cậy chi tài,

          Chữ Tài liền với chữ Tai một vần....

Hóa ra người ta có thể đọc ngược Truyện Kiều theo từng cặp câu thơ lục bát, tức là theo từng khổ thơ bắt đầu từ hai câu cuối cùng”.

Và từ suy nghĩ ấy, ông đã biên soạn quyểnTruyện Kiều đọc ngược (với toàn bộ 3.254 câu Kiều xếp ngược lại) là tác phẩm độc đáo duy nhất, cũng là bài tập Kiều dài nhất với tất cả các câu Kiều được viết theo hướng này.

 

HÀNH TRANG VÀ TÍCH LUỸ KIẾN THỨC

Khi có bằng Tú tài năm 1954 ở Hà Nội, miền Bắc được giải phóng, Phạm Đan Quế được xếp vào học tại trường Đại học Sư phạm Khoa học Hà Nội. Năm 1957, tốt nghiệp và lên dạy ở trường cấp 3 Cao Bằng, làm chủ nhiệm 3 năm liền một lớp học mà ngoại ngữ là môn Trung văn. Học sinh thỉnh thoảng nói với nhau mấy câu tiếng Trung Quốc làm thầy giáo cảm thấy hơi “quê” nên quyết tâm học thêm chữ Hán, ôn lại kiến thức chữ Hán được học khi còn nhỏ và ở Tú tài học - Hán văn như ngoại ngữ thứ ba (được gọi là Tử ngữ sau Pháp văn, Anh văn). Ông lại hành động giống như người cha, đặt mua sách báo Toán từ bên Trung Quốc (lúc ấy, quan hệ Việt – Trung đang rất tốt), sau mua báo hàng ngày như Tân Việt Hoa... và chẳng mấy ông đã vượt được học trò và có thể hướng dẫn học sinh. Năm 1960, chuyển về dạy ở Thái Nguyên, tuy dạy Toán, nhưng có cơ may tìm được một quyển Kiều chữ Nôm. Vì đã biết được ít nhiều chữ Hán, ông mày mò tìm hiểu và học thêm chữ Nôm qua bản Kiều này. Say mê sưu tầm, và nghiên cứu Truyện Kiều bỗng trở thành nguồn vui, nỗi đam mê mà ông không sao từ bỏ được.

CÚ HÍCH NGHIÊN CỨU TRUYỆN KIỀU.

Năm 1967, cách nay 50 năm, trong một đêm ru con trai đầu lòng, đoạn nói về Kim Trọng sau khi vinh hiển nghĩ thương phận Kiều lưu lạc:

2867. Kim từ nhẹ bước thanh vân,

Nỗi nàng, càng nghĩ xa gần càng thương.

2869. Ấy ai hẹn ngọc thề vàng,

Bây giờ Kim mã Ngọc đường với ai.

2871. Rễ bèo chân sóng lạc loài,

Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu li.

Ông đã phải ngâm đi ngâm lại nhiều lần nhưng vẫn chưa thấy cảm được hết cái hay, cái đẹp, cái tình ý của khổ thơ. Bởi trong Truyện Kiều có hàng chục lần Nguyễn Du dùng chữ bèo để ví với thân phận chìm nổi của nàng Kiều:  chút thân bèo bọt  dám phiền mai sau; bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm, Để con bèo nổi mây chìm vì ai, Hoa trôi bèo dạt đã đành, phận bèo bao quản nước sa…

Ông kể: “Đêm hôm ấy, tôi nghĩ lại chữ bèo và mường tượng đến con sóng hình “sin”, thân phận Kiều như rễ bèo lại không nằm trên ngọn sóng hay mặt nước mà ở chân sóng, rễ bèo chân sóng là điểm thấp nhất của cái thấp nhất thì mới thấy hết được bút lực của Nguyễn Du, qua 2 chữ ấy, ta cảm thấy như mỗi chữ đều được chọn lựa kỹ càng và có sức nặng riêng. Nhớ lại đoạn bình Kiều của Tiên Phong Mộng Liên Đường đã viết từ gần 200 năm  qua (1820), trong đêm đông lạnh giá mà tôi toát mồ hôi, không ngủ được :

“...Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn trường tân thanh cũng phải... Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy...”.

Từ đấy tôi càng quyết tâm học thêm chữ Hán, chữ Nôm để có thể đọc hiểu được Truyện Kiều chữ Nôm của Nguyễn Du mà trước mắt chỉ là yêu cầu đọc tác phẩm và hiểu được kỹ càng”.

TRAU DỒI KIẾN THỨC VÀ RÈN LUYỆN BÚT LỰC

Đến năm 1976, được chuyển về công tác ở Sở giáo dục Hà Nội, ông tìm đến Thư viện Quốc gia và Thư viện Khoa học xã hội (Trước đây là viện Viễn đông Bác cổ), tìm kiếm tài liệu. Ở đây ông được đọc bản chép tay ở Viễn Đông Bác Cổ Học Viện, ký hiệu A953, nhan đề Kim Vân Kiều – Thanh Tâm Tài Tử biên thứ. Đó là bản Micrôfim A953 này được lập ngày 23-3-1954 (Archives micronormalisées – Photoza - Paris) và tìm các bản dịch ra tiếng Việt...

Tự biết mình chỉ là một thầy giáo Toán, muốn học thêm môn Văn, thời bấy giờ không được phép nên phải tự tìm đọc và nghiên cứu những giáo trình Văn của các trường Đại học Sư phạm, Đại Học Tổng Hợp. Và cả những tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, cố gắng nâng cao trình độ để có thể hiểu thấu đáo những bài nghiên cứu cũng như những chuyên luận viết về Truyện Kiều.

Ông đặc biệt yêu thích tìm hiểu hiện tượng bói Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều. Trong bối cảnh việc  bói toán bị hoàn toàn cấm đoán, ông mạnh dạn tìm đến các vị thầy bói chính hiệu để hiểu thêm về hiện tượng, nguyên lý bói Kiều...

Hai năm 1986-1988, sang nước cộng hòa Công-gô dạy Toán bằng tiếng Pháp với tư cách chuyên gia, ông vẫn đem theo Truyện Kiều và nghiên cứu về nghệ thuật Truyện Kiều, đi sâu vào từng chi tiết dù nhỏ nhặt nhất, thống kê lại  như cấu trúc của 5 lần Kiều đánh đàn cùng qua 8 giai đoạn, 5 lần nói đến cỏ ở hội Đạp thanh mà mỗi lần mỗi khác...

Về nước, ông bắt đầu biên soạn hai quyển sách đầu tiên viết về Truyện Kiều. Trong lời giới thiệu quyển thứ nhất Truyện Kiều đối chiếu,  Giáo sư Phan Ngọc viết: Tôi rất sung sướng được giới thiệu công trình này, ở đấy sự đối chiếu được thực hiện chi tiết và công phu. Ở đây bạn đọc có thể tự mình xác định những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai tác phẩm nhằm quy định xem phần nào là của Nguyễn Du, phần nào của Thanh Tâm Tài Nhân để thanh toán quan điểm cho rằng Truyện Kiều chẳng qua là sách dịch...

...Ông Phạm Đan Quế đã có công giới thiệu một cách nhìn đối chiếu hai tác phẩm khá chi tiết. Tôi hoan nghênh công việc nghiên cứu dựa trên bằng chứng, tiến hành đối lập để tìm ra quan hệ. Đó là cách làm hiện đại, bổ ích cho việc nghiên cứu khách quan. Còn việc đánh giá là tùy thuộc từng người, nhất là tùy thuộc vào vốn kiến thức của người nghiên cứu nên khó lòng đòi hỏi sự nhất trí.

Quyển thứ hai Bình Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều là một phần nhỏ trong công trình chuyên luận “Trong nền văn hóa Kiều” vì quá đồ sộ nên mất đúng 10 năm (1991 – 2000) mới ra mắt độc giả đầy đủ. Giáo sư Phan Ngọc nhận xét: Ông Phạm Đan Quế là một giáo viên toán, nhưng cũng như tôi lại là một "Kim Vân Kiều nhân”. Ông sưu tập các biểu hiện văn hóa chung quanh các tác phẩm quen thuộc "Lẩy Kiều, Đố, Câu đối, Tập Kiều, Vịnh Kiều, Phú Kiều, Bình Kiều...”. Vì số trang có hạn, ông chỉ có thể giới thiệu một số bài tiêu biểu nhất. Nhân có một cơ sở toán học, ông cố gắng tìm hiểu cách bói Kiều, các vần trong Kiều để cung cấp một cái nhìn khách quan. Công trình này là bổ ích cho bất cứ ai nghiên cứu Kiều không những như một hiện tượng văn học mà còn như một hiện tượng văn hóa, xã hội học, tâm lí học và phong tục học. Trong hoàn cảnh hiện nay, khi tình hình nghiên cứu các khoa học nhân văn có bước đổi mới, chấp nhận cách nhìn đa ngành và liên ngành không đơn thuần lấy giáo dục tư tưởng làm mục tiêu, một tài liệu như thế này tự nó có một giá trị riêng đối với những người của nó.

Bạn đọc còn biết đến Phạm Đan Quế qua cuốn Giai thoại và sấm ký Trạng Trình - NXB Văn nghệ TP HCM, 1992) được tái bản đến 5 lần mà gần đây nhất là bản in của NXB Thanh niên năm 2005 với 320 trang. Và sau đó ông chuyển hẳn sang nghiên cứu Truyện Kiều, đồng thời quyết tâm trở thành người chuyên nghiên cứu về Truyện Kiều.

 


Trích theo Tập san CÕI NGƯỜI TA (Hội Kiều học và Nhà xuất bản Hồng Đức - Số 2, quý I - 2016)

 

Bảo tàng Kỷ lục Việt Nam mobile
Pepsi
VQG Phong Nha
Tổ chức Kỷ lục Châu Á
THE FUTURE IS NOWI
Viện Top Thế giới
Tổ chức Kỷ lục Đông Dương
VINHOME
Tổ chức Kỷ lục Hoa Kỳ