TOP những món ăn truyền thống ngày Tết cổ truyền của người Việt: Bánh chưng, bánh giầy, bánh tét - Những chiếc bánh gói gọn tinh hoa văn hoá Việt

07-02-2024

(VietKings) Bánh chưng, bánh giầy, bánh tét… là những loại bánh không thể thiếu trong ngày Tết, tuy cách làm khác nhau nhưng đều là những tinh hoa ẩm thực đại diện cho nền văn minh lúa nước của người Việt xưa.

 

Ngày Tết cổ truyền, nhà nào cũng có cặp bánh để cúng gia tiên. Nhắc đến bánh chưng, bánh giầy, bánh tét là nhắc đến những phong tục, truyền thống thờ cúng tổ tiên, cảm ơn trời đất cho một năm mùa màng bội thu bằng những món ăn được làm từ nếp, xuất phát từ nền văn hóa lúa nước, nông nghiệp lâu đời. Nếu bánh chưng, bánh giầy là nét văn hóa lâu đời của người miền Bắc, bánh tét lại được người dân miền Nam ưa chuộng hơn. Còn người miền Trung dùng cả bánh chưng và bánh tét, tuỳ theo khu vực. 

 

Trong tiềm thức của người Việt, những chiếc bánh thơm lừng ấy không đơn thuần là món ăn mà còn là niềm vui, sự hân hoan trong những ngày đầu năm mới.

 

Trong tâm thức của những người Việt và được sử sách truyền lại cho đời con cháu sau này, bánh chưng được bắt nguồn từ truyền thuyết Lang Liêu và gắn liền với sự tích “Bánh chưng, bánh giầy”. Đó là câu chuyện kể về hoàng tử Lang Liêu đã dùng gạo nếp, đỗ xanh, lá dong để gói nên bánh chưng, giã xôi nếp, nặn thành bánh giầy để làm lễ vật dâng Vua cha (Vua Hùng thứ 6). Lễ vật đó được Lang Liêu dùng những nguyên liệu vốn dĩ bình dị, gắn với nghề trồng lúa nước, do bàn tay con người làm nên và được Vua Hùng ưng ý, cho rằng, lễ vật không chỉ là giá trị vật chất mà còn có ý nghĩa triết lý sâu xa. Từ đó, Vua Hùng đã truyền dạy muôn dân làm hai món bánh đó để dâng cúng tổ tiên, ăn vào dịp lễ Tết.

 

Sự tích bánh chưng, bánh giầy không dừng lại ở câu chuyện xưa, ở món ăn đơn thuần mà trở thành văn hoá, thành nét đẹp truyền thống, lan toả và trường tồn cùng với thời gian. 


Theo quan niệm dân gian, trời tròn, đất vuông. Bánh chưng có hình vuông tượng trưng cho đất. Bên ngoài của bánh gói bằng lá dong, bên trong là gạo nếp và nhân gồm đậu xanh, hành, thịt heo. Đây đều là những nguyên liệu nấu ăn truyền thống của các gia đình Việt.

 

Tượng trưng cho đất, chiếc bánh chưng có hình dáng vuông vức, đẹp mắt, nhân bên trong là thịt mỡ với đậu xanh, bên ngoài là những hạt nếp chắc mẩy được gói cẩn thận bằng lá dong và luộc chín.

 

Bánh giầy hình tròn, tượng trưng cho trời. Bánh trắng nõn, nhỏ gọn trong lòng bàn tay, mặt trên hình vòng cung giống như bầu trời, có hai miếng lá xanh cắt tròn đậy trên dưới. Người Việt xưa quan niệm rằng bầu trời là nơi cư ngụ của thần linh, vì vậy bánh giầy thường được dùng để tế trời, tế thần cầu mong thời tiết thuận lợi cho một năm ấm no.

 

Tượng trưng cho trời, bánh giầy tròn, trắng muốt được làm từ nếp quết nhuyễn, dẻo và thơm.

 

Từ trong truyền thuyết, hình ảnh bánh chưng, bánh giầy mang ý nghĩa triết lý gắn liền với quan niệm nhân sinh và đời sống lao động của người dân đất Việt. Hai thứ bánh ấy tượng trưng cho trời tròn, đất vuông, gợi sự hài hoà, vẹn toàn trong vũ trụ. Đồng thời, nguyên liệu của bánh nói lên rằng, những loại ngũ cốc như gạo, đỗ xanh do con người làm ra sẽ nuôi sống, gắn bó với cuộc sống thường ngày. Cách thức gói bánh và sự kết hợp các nguyên liệu gợi lên sự gắn kết chặt chẽ và sự hài hoà trong cuộc sống của con người để làm nên những điều tốt dẹp.

 

Khởi phát từ thời đại Hùng Vương, bánh chưng, bánh giầy còn là minh chứng cho tư tưởng trọng nông, quý trọng hạt gạo, nguồn nuôi sống con người của ông cha ta trong quá khứ. Đó là bài học vừa giản dị vừa sâu xa được mỗi người dân Việt Nam thấm nhuần, truyền lại qua bao thế hệ.

 

Nếu như ở miền Bắc nổi tiếng với bánh chưng xanh, bánh giầy thì ở đất phương Nam lại nức tiếng với hương vị dân dã, mộc mạc của bánh tét. Bánh tét, có nơi gọi là bánh đòn, là một loại bánh trong ẩm thực của người Việt và một số tộc người ở miền Nam, miền Trung. Bánh tét có nét tương đồng với bánh chưng ở miền Bắc về nguyên liệu, cách nấu; chỉ khác về hình dáng và sử dụng lá chuối để gói thay vì lá dong.

 

Bánh tét có nguyên liệu giống bánh chưng, nhưng người miền Nam gói theo hình trụ dài. Vào ngày Tết, người dân nơi đây thường làm hai loại bánh chay và mặn. Bánh chay để cúng ông bà, trời đất, bánh mặn dùng trong bữa ăn.

 

Không ai biết chính xác từ bao giờ mà những chiếc bánh tét luôn xuất hiện trong mâm cỗ ngày Tết của người dân Nam Bộ. Một vài chuyên gia nghiên cứu về văn hóa nói rằng, rất có thể, bánh Tét mà người dân trong Nam sử dụng trong ngày Tết hiện nay là sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa Việt Chăm xưa hay cũng có thể là sự kế thừa lại những giá trị của lớp tiền nhân đi trước. Khi người dân Việt bắt đầu khai hoang, mở rộng vùng đất vào phương Nam, nhờ sự tiếp thu những tín ngưỡng của nền văn hóa Chăm, trong đó có tín ngưỡng thờ thần lúa nên người dân Việt sau này đã tạo nên chiếc bánh tét như ngày nay. 

 

Nếu như ở miền Bắc, trong ngày Tết có bánh chưng xanh gắn liền với sự tích nổi tiếng “bánh chưng bánh dày” của người con thứ 18 của Vua Hùng là Lang Liêu. Bánh chưng bánh dày với ý nghĩa tượng trưng cho trời tròn, đất vuông thì bánh tét cũng có ý nghĩa đặc biệt riêng của nó, với những câu chuyện ly kỳ về nguồn gốc.

 

Bên cạnh nguồn gốc ra đời của bánh tét như đã nói ở trên thì ông bà xưa còn truyền tai nhau lại những giai thoại lý giải cho việc hình thành những chiếc bánh tét là câu chuyện lúc bấy giờ vua Quang Trung khi đánh quân Thanh vào dịp Tết, vua cho quân lính nghỉ ngơi. Có một quân lính đã đem dâng lên vua một loại bánh được gói bằng lá chuối tạo thành hình trụ, khi ăn vua khen ngon và hỏi đây là loại bánh gì. Người lính trả lời rằng đây là loại bánh mà người vợ ở quê nhà thường gói cho để đem theo ăn bên đường. Mỗi lần ăn, anh lính lại nhớ đến vợ và nhớ đến quê nhà. Nghe thấy vậy, vua Quang Trung cảm động và ra lệnh cho mọi người học cách gói loại bánh này ăn vào dịp Tết đến rồi đặt cho nó cái tên là bánh Tết. Từ đó bánh Tết được xuất hiện trong ngày Tết cổ truyền Việt Nam.

 

Như trên đã được nhắc đến, bánh tét còn được gọi với cái tên là bánh Tết. Về sau vì tính chất vùng miền, bánh Tết đã được đọc trại thành “bánh tét”. Hay cũng có thể lý giải cho rằng, tét là hành động cắt bánh. Mỗi khi ăn loại bánh này, người ăn sẽ dùng dây và khoanh tròn đầu bánh đã lột rồi “tét” ra thành từng khoanh nhỏ vừa ăn. Vì vậy, người địa phương đã gọi loại bánh này là bánh tét giống với hành động cắt bánh vậy.

 

Mỗi dịp Tết đến xuân về, chỉ cần thoáng nghe mùi nếp lan toả từ những chiếc bánh chưng, đòn bánh tét là những người con xa quê bỗng thấy rưng rưng nhớ về nguồn cội, ông bà cha mẹ. Đêm Giao thừa, cả gia đình quây quần bên nhau xếp lá, gói bánh, nấu bánh… đã trở thành một hình ảnh thân thương, không thể thiếu trong những ngày Tết cổ truyền.

 

Vào những ngày giáp Tết, những gia đình Việt thường có phong tục quây quần bên nhau cùng gói bánh như duy trì một nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời.

 

Không những mang nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Việt, các loại bánh làm từ nếp như bánh chưng, bánh tét, bánh giầy… còn chứa nhiều giá trị dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ. Nếp có vị ngọt thơm tự nhiên và độ đường rất ít so với gạo, dễ tiêu hoá, tốt cho bao tử. Phần thịt heo, mỡ heo trong bánh cung cấp lipid và protein, còn nhân đậu cung cấp nhiều vitamin cùng khoáng chất. Chính vì vậy, món ăn này rất tốt cho sức khoẻ của mọi lứa tuổi trong gia đình. Ngoài ra, kỹ thuật gói và luộc bánh tốt sẽ giúp bảo quản được lâu, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.


Nga Võ (tổng hợp & biên tập) - VietKings