VIETKINGS công bố Top 10 Kỷ lục Sống bằng sáng tạo nhân ngày Sở hữu Trí tuệ Thế giới 26/4/2016

26-04-2016

(VietKings) Đây là kỷ lục mang đậm dấu ấn sáng tạo, là kết tinh những giá trị tiêu biểu của trí tuệ, tâm huyết, là tinh hoa mà các kỷ lục gia và đơn vị kỷ lục gia đã dày công vun đắp, sáng tạo trong suốt hành trình sống và làm việc nhằm phục vụ xã hội và cộng đồng.

 

Nhân ngày Sở hữu Trí tuệ Thế giới 26/4/2016, với mục đích tôn vinh vài trò và những giá trị của Sở hữu trí tuệ do các kỷ lục gia và đơn vị sở hữu kỷ lục Việt Nam tạo ra đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân tăng cường hoạt động sáng tạo, đổi mới vì cộng đồng, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xin được điểm lại và tiếp tục công bố 10 kỷ lục Việt Nam trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ lần thứ 3 năm 2016.

Đây là kỷ lục mang đậm dấu ấn sáng tạo, là kết tinh những giá trị tiêu biểu của trí tuệ, tâm huyết, là tinh hoa mà các kỷ lục gia và đơn vị kỷ lục gia đã dày công vun đắp, sáng tạo trong suốt hành trình sống và làm việc nhằm phục vụ xã hội và cộng đồng. Những kỷ lục này cũng là minh chứng tiêu biểu cho định hướng phát triển của Kỷ lục Việt Nam là hướng vào nội dung, khuyến khích các kỷ lục có chiều sâu văn hóa, phục vụ xã hội cộng đồng.

Dưới đây là 10 Kỷ lục:

1.  Cá nhân sáng tạo ra các tác phẩm mỹ thuật được cấp giấy chứng nhận đăng ký bản quyền nhiều nhất

Kỷ lục gia BÙI VĂN NGỌ

Ông Bùi Văn Ngọ sinh năm 1931 tại Sài Gòn, là hội viên Hội Mỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh. Cùng với công việc mưu sinh ông đã mày mò tự học hội họa từ khi còn trẻ. Năm 1984 đến nay ông đã vẽ khoảng 1.000 bức tranh.

 

 

Tuy không xuất thân từ một trường mỹ thuật nào nhưng số lượng sách và giáo trình tự chọn đã giúp ông làm việc một cách độc lập nhưng nghiêm túc và bài bản. Là người rất quan tâm đến quyền tác giả nên ông Bùi Văn Ngọ đã đăng ký với Cục Bản quyền tác giả các tác phẩm của mình. Đến năm 2013, ông đã được cấp 724 giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả theo thể loại tác phẩm tạo hình (chủ yếu là tranh sơn dầu), gần gấp đôi con số ông đăng ký vào năm 2012.

Một số tác phẩm đăng ký bản quyền của ông Bùi Văn Ngọ như: Sơn nữ tắm thác Pongour, Chân dung cô gái ở Long Sơn, Hoa Cúc, Thu Hải đường Đà Lạt, Cảnh Hòn Chồng - Nha Trang, Cảnh nhà thờ Huyện Sĩ TP. HCM, Cảnh quán cóc - Bãi Dâu Vũng Tàu, Rừng tràm Bình Châu, Nấu bánh tét ăn Tết, Cổ nhạc Nam Bộ, Mưa chiều trên sông Thu Bồn, Nấu dầu tràm … Danh mục này đã được tra cứu tại hệ thống cơ sở dữ liệu của Cục Bản quyền tác giả.

2.  Tác giả dành thời gian, tâm huyết và trí tuệ để nghiên cứu, biên soạn bộ sách viết về Truyện Kiều nhiều nhất Việt Nam

Sở hữu: Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế

Nhà Kiều học Phạm Đan Quế (sinh năm 1936) nguyên là một giáo viên dạy Toán. Tự biết mình chỉ là một thầy giáo Toán, muốn học thêm môn Văn, thời bấy giờ không được phép nên phải tự tìm đọc và nghiên cứu những giáo trình Văn của các trường Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp. Và cả những tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, cố gắng nâng cao trình độ để có thể hiểu thấu đáo những bài nghiên cứu cũng như những chuyên luận viết về Truyện Kiều.

Với niềm đam mê và mong muốn tiếp cận Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều, ông là người phát hiện ra rất nhiều điều độc đáo của Truyện Kiều. Sau 50 năm tìm tòi và nghiên cứu Truyện Kiều, năm 1991, ông cho ra mắt 2 cuốn sách đầu tiên: “Truyện Kiều đối chiếu” và “Bình Kiều,vịnh Kiều, bói Kiều”. Đến năm 2005, ông tiếp tục in thêm 13 quyển nữa viết về truyện Kiều. Từ năm 2013 đến nay, ông đã xuất bản thêm 5 tác phẩm nghiên cứu về truyện Kiều. Như vậy trong vòng 25 năm (1991 – 2015), Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế đã ra mắt bạn đọc 20 tác phẩm viết về Truyện Kiều. Ông đã phá kỷ lục của chính mình được xác lập năm 2005 với 15 quyển sách về Kiều được xuất bản. Với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về Truyện Kiều, Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế đã đề xuất nhiều kỷ lục Việt Nam và thế giới cho tác phẩm Truyện Kiều.

 

 

Cuộc đời và sự nghiệp của Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế gắn bó chặt chẽ với Truyện Kiều, Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế với niềm say mê tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm … Với ông, Truyện Kiều trở thành nguồn vui không sao từ bỏ được và niềm đam mê đó đến hôm nay vẫn mãi vẹn nguyên.

 

3.  Người dày công nghiên cứu, tổng hợp và sáng tạo nên cuốn sách Lịch sử Võ học Việt Nam đầu tiên

Kỷ lục gia, Nhà nghiên cứu Phạm Đình Phong

Công trình sách Lịch sử võ học Việt Nam được Võ sư, nhà nghiên cứu Phạm Đình Phong dày công thực hiện và mất đến 12 năm để hoàn thiện.

Sách có độ dày 784 trang, nội dung biên soạn từ thời lập quốc (Nhà nước Văn Lang) đến nay, gồm 2 chương, 12 mục, hơn 80 tiểu mục về quá trình hình thành và các giai đoạn phát triển, các mốc son, sự kiện lịch sử oai hùng của nền võ học dân tộc… Hệ thống võ học được đề cập đến bao gồm, Võ Lý, Võ Lễ, Võ Đạo, Võ Kinh, Võ Trận, Võ Cử, Võ Thuật, Võ Y, Võ Nhạc, Võ Miếu, Võ Phục, với 100 hình ảnh minh họa và các bài "Thiệu võ cổ”. Đây là một cuốn sách mà theo đánh giá của nhiều võ sư danh tiếng và các nhà chuyên môn về võ học là một ông trình nghiên cứu, biên soạn đầy đủ, chi tiết, cụ thể… về nguồn gốc, xuất xứ của các môn võ cổ truyền Việt Nam từ thời xa xưa và phát triển đến nay. 

Tác phẩm Lịch sử Võ học Việt Nam là công trình khảo cứu nghiêm túc, khoa học, công phu về lịch sử Võ học của Việt Nam. Tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc trong việc bảo tồn, chấn hưng nền võ học Việt Nam, góp phần tô thắm những giá trị nhân văn trong văn học, nghệ thuật dân tộc.

 

 

Hiện nay, tác phẩm đã tái bản bằng Tiếng Việt và đã được chuyển ngữ sang Tiếng Pháp nhằm giới thiệu và quảng bá truyền thống thượng võ, lịch sử võ học và những tinh hoa độc đáo của võ Việt Nam với những người yêu thích võ Việt Nam cùng các nhà nghiên cứu, võ sư, võ sĩ, môn sinh đã và đang nghiên cứu, học tập, truyền bá võ Việt Nam trên thế giới.

4.   Nhà khoa học được bảo hộ sở hữu trí tuệ giống cây trồng, nguồn gen thực vật quý hiếm trong và ngoài nước nhiều nhất

Tiến sĩ, Kỷ lục gia: Phạm S

Tính đến nay, Kỷ lục gia, Tiến sĩ Phạm S là tác giả một sáng kiến cải tiến kỹ thuật, một giải pháp h��u ích, hai giống chè cao sản, một giống hoa; bảy Bằng lao động sáng tạo; chủ 32 văn bằng Sở hữu trí tuệ; sở hữu trên 40 quỹ gen cây quý hiếm ở Việt Nam; tác giả sáu cuốn sách, một giáo trình đại học; công bố trên 70 công trình khoa học; giải Nhì khoa học công nghệ sáng tạo Việt Nam năm 2007… và chủ nhiệm nhiều đề tài, dự án cấp tỉnh, cấp nhà nước.

Từ năm 1999 đến năm 2014, Kỷ lục gia, Tiến sĩ Phạm S đã nghiên cứu, tiến hành bảo tồn, phát triển trên 40 giống cây trồng, nguồn gen thực vật quý hiếm trong và ngoài nước bao gồm: cây lâm nghiệp, cây ăn quả, hoa cây cảnh, cây dược liệu và cây thực phẩm.

Những nghiên cứu khoa học ứng dụng thực tiễn của ông luôn được tiếp nối ra đời, phục vụ nông dân và doanh nghiệp. Từ đề tài nhân giống vô tính cây bơ đang giúp nhà nông thoát nghèo, đến giống cây Thiên hoàng long quý hiếm, trong tương lai sẽ giúp cho ngành cây ăn quả Việt Nam không bị cạnh tranh với Trung Quốc, Thái Lan và rất phù hợp nhiều vùng sinh thái trong nước; bộ gen quý hiếm cây Đỗ quyên; giải pháp trồng cây che bóng vườn cà phê thích ứng biến đổi khí hậu; với giống cây lâm nghiệp Thiên ngân, cây Mahonis phục vụ trồng rừng các tỉnh Tây Nguyên và giống chè dược liệu Thiên kim trà giúp phòng chống ung thư rất quý hiếm trên thế giới …v…v….

 

Ông Phạm S (bên phải) nhận bằng kỷ lục nhà khoa học sở hữu nhiều giống cây trồng, nguồn gen thực vật quý hiếm nhất

Trong mỗi chuyến đi công tác ở nước ngoài, ông đều mang về một công nghệ mới, một nguồn gen quý hiếm cho quê hương, đất nước, những giống cây lạ, với ý tưởng sáng tạo, thông qua chuỗi nghiên cứu đã được ông "đặt tên” và đăng ký bảo hộ tại Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam.

 

5.  Người có nhiều công trình đoạt giải thưởng trong lĩnh vực sáng tạo KHCN Việt Nam và nhiều giải thưởng của các tổ chức sáng tạo khoa học công nghệ trên thế giới nhất

Kỷ lục gia, Anh hùng Lao động, Tiến sĩ Hoàng Đức Thảo

 

Từ năm 2004 đến năm 2012, ông là tác giả của 23 công trình khoa học công nghệ trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị, nông thôn và bảo vệ môi trường; Sở hữu 18 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích; đoạt 17 giải thưởng khoa học trong nước và quốc tế bao gồm: 6 giải thưởng trong nước (Vifotec) và 11 giải thưởng quốc tế (4 giải vàng Techmart Asean + 3 năm 2009; 1 giải đặc biệt, 2 giải vàng, 1 giải bạc của Tổ chức sáng tạo KHCN (SIIF) tại Hàn Quốc năm 2008, 2009; 2 giải vàng của Tổ chức sáng tạo KHCN (ITEX) tại Malaixia năm 2010, 2012; 1 giải thưởng WIPO của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới dành cho công trình sáng tạo KHCN xuất sắc nhất Việt Nam năm 2009).

 

TS Hoàng Đức Thảo nhận Giải thưởng Nhân tài Đất Việt ở lĩnh vực Khoa học Công nghệ năm 2014

 

Các sản phẩm khoa học công nghệ  do ông sáng tạo đã và đang được chế tạo tại 5 nhà máy gồm: Hà Nội, Thái Bình, Nghệ An, Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu và đang triển khai ứng dụng có hiệu quả tại 48/63 tỉnh thành ở Việt Nam, bước đầu xuất khẩu sang Malaysia, Lào và hiện có 14 UBND tỉnh thành đã ban hành chủ trương áp dụng sản phẩm công nghệ Busadco trên địa bàn.

Dưới sự lãnh đạo của ông Hoàng Đức Thảo, Công ty Busadco cũng đã đoạt nhiều giải thưởng lớn trong quá trình hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học vào bảo vệ môi trường như: Giải thưởng xuất sắc toàn cầu do Tổ chức Chất lượng quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương trao tặng; Giải thưởng môi trường Việt Nam năm 2010, Giải thưởng chất lượng Quốc gia năm 2011… Đến nay Busadco đã có 17 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích do Bộ KH-CN cấp; 05 Giấy chứng nhận công nghệ phù hợp của Bộ Xây dựng cấp cho phép áp dụng toàn quốc và xuất khẩu; 18 Giấy chứng nhận hàng hóa đạt tiêu chuẩn chất lượng do Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp. Busadco cũng là đơn vị xác lập kỷ lục Việt Nam “Doanh nghiệp khoa học công nghệ đoạt nhiều giải thưởng nhất của các tổ chức sáng tạo khoa học công nghệ trong nước và trên thế giới”...

 

6.  Đạo diễn lao động sáng tạo ở lĩnh vực điện ảnh để xây dựng nên nhiều bộ phim truyền hình về đề tài đất nước, con người miền biển đảo nhất

Kỷ lục gia, NSƯT - Đạo diễn Nguyễn Văn Lượng

 

Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Văn Lượng, sinh năm 1957 tại Hải Phòng. Ông là một đạo diễn phim truyền hình nổi tiếng của Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng.

Sau gần 30 năm miệt mài lao động sáng tạo ở lĩnh vực điện ảnh, NSƯT – Tiến sĩ đạo diễn Nguyễn Văn Lượng đã cho ra đời 220 bộ phim về đề tài đất nước, con người miền biển đảo Việt Nam ở 3 thể loại: phim truyền hình, phim truyện và phim tài liệu, đã được cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước nồng nhiệt đón nhận.

 

 Đạo diễn Nguyễn Văn Lượng chỉ đạo diễn xuất

Với thành quả đó, ông đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục Việt Nam năm 2012, Tổ chức Kỷ lục châu Á xác lập kỷ lục châu Á năm 2013, Liên minh Kỷ lục Thế giới xác lập kỷ lục thế giới năm 2015.

220 bộ phim về đề tài biển này thực sự là một “Bảo tàng về đất nước, con người biển đảo Bắc Bộ, Việt Nam”.

 

7.  Hội bảo trợ bệnh nhân nghèo đầu tiên ở Việt Nam sáng tạo và xây dựng nhiều hành trình từ thiện – xã hội mang đậm dấu ấn nhân văn nhất.

 Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh

Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào ngày vào ngày 29/01/1994với nhiệm vụ lo lắng, giúp đỡ, chăm sóc cho những bệnh nhân nghèo ở thành phố cũng như các tỉnh bạn có điều kiện khám chữa bệnh miễn phí. Từ đó đến nay, Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo là chiếc cầu nối giúp cho những người có hoàn cảnh không may như đau ốm, tai nạn rủi ro… có cơ hội chữa bệnh để sớm hòa nhập cuộc sống với cộng đồng.

Bằng sự ghi nhận thực tế và tâm huyết, tình cảm đối với những hoàn cảnh éo le trong xã hội, suốt trong hành trình phát triển của mình, Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực, sáng tạo và xây dựng các chương trình từ thiện mang đậm dấu ấn nhân văn như: "Đem ánh sáng cho người mù nghèo; Vì nụ cười trẻ thơ; Xe lăn cho người tàn tật và trẻ bại liệt; Bữa ăn miễn phí cho bệnh nhân nghèo và người nuôi bệnh; Âm thanh và tiếng nói cho trẻ câm điếc; Học bổng cho HSSV nghèo, khuyết tật, hiếu học; Mua bảo hiểm y tế cho người nghèo” v.v…

 

Bà Ngô Thị Huệ (phu nhân cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) cùng ông Trần Thành Long - Chủ tịch Hội thăm và tặng quà cho một bệnh nhi mắc bệnh tim ngoài lồng ngực sau khi phẫu thuật

 

Hơn 20 năm hoạt động Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp khám chữa bệnh miễn phí cho trên 2.000.000 lượt người nghèo và gần 10 vạn trẻ em dị tật, khuyết tật bất hạnh. Từ năm 1997 đến tháng 10/2013, sau 16 năm nỗ lực, phấn đấu của tập thể Ban chấp hành Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo thành phố và sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân, chương trình đã đạt đến ca phẫu thuật mắt miễn phí thứ 400.000, giúp cho người nghèo bị đục thủy tinh thể, trong đó có gần 37.500 trẻ em, với kinh phí tổng là 180 tỷ đồng. Chương trình không chỉ cứu giúp cho người nghèo tại TP.HCM mà còn trợ giúp cho 55 tỉnh thành trong cả nước và hai nước Lào, Campuchia.  Từ năm 2007 đến cuối năm 2015, chương trình tim của Hội đã thực hiện được 7.000 ca mổ tim với tổng kinh phí khoảng 280 tỷ đồng Việt Nam (trong đó phần kinh phí do Hội trực tiếp thanh toán cho các BV là 180 tỷ đồng, phần còn lại của các tổ chức từ thiện khác cùng hợp tác với Hội). Từ những đứa trẻ ốm yếu, xanh xao, nhờ được mổ tim chữa trị kịp thời, các cháu đã lớn lên khỏe mạnh, học tập và lao động như những người bình thường khác.

Đây là những con số ấn tượng đầy ý nghĩa trên hành trình dài mang sự sống, sức khỏe, niềm tin cho nhiều người của Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh

8.      Đơn vị tổ chức, sáng tạo ra các đợt phát động viết thư, viết tự truyện thu hút nhiều phạm nhân, trại viên, học sinh tham gia nhất.

Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an

Công tác giáo dục cải tạo, chuyển hóa về nhận thức của các loại đối tượng phạm nhân là một công tác mang tính đặc thù nhằm cảm hóa, thuyết phục những con người đã một thời phạm tội nhận rõ lỗi lầm từ đó xác định được trách nhiệm, thái độ của bản thân, từ đó có ý thức tích cực cải tạo và phấn đấu sống, lao động có ích cho gia đình và xã hội để làm lại cuộc đời.

Với ý nghĩa đó, trong những năm qua, Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an đã tổ chức các cuộc thi viết tự truyện với chủ đề "Sự hối hận và niềm tin hướng thiện” đã thu hút 23.079 bài dự thi của hơn 23.079 phạm nhân, trại viên tham gia, các bài viết này sau đó đã được in thành sách "Sự hồi sinh từ trong tuyệt vọng”, phát hành đưa ra công chúng. Cuộc thi viết thư với chủ đề "Gửi lời xin lỗi" đã thu hút 52 trại giam, 58 trại tạm giam, 5 cơ sở giáo dục bắt buộc và 4 trường giáo dưỡng trong cả nước với 101.862 bức thư…

 

Đây thực sự là những hoạt động mang đậm dấu ấn sáng tạo, độc đáo và giàu tính nhân văn của những người làm công tác giáo dục cải tạo.

9.      Tác giả sáng tác các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả nhiều nhất

Kỷ lục gia Nguyễn Kim Thoa

Bà Nguyễn Kim Thoa là Tổng giám đốc của Tập đoàn Công nghệ cao quốc tế Con cò vàng. Bà cũng chính là người đã sáng tác nên các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng trong lĩnh vực phân bón cho nhãn hiệu Con cò vàng từ tháng 1/2006 đến nay.

Hiện, bà đã sáng tác trên 300 tác phẩm gồm nhãn hiệu phân bón, nhãn hiệu trên bao bì phân bón, logo sản phẩm… của Tập đoàn Con cò vàng.

 

Bà Nguyễn Kim Thoa, TGĐ Tập đoàn Con Cò Vàng

Các tác phẩm này đã được Cục Bản quyền Tác giả cấp giấy chứng nhận bản quyền sở hữu trí tuệ.

10. Người Việt Nam có phương pháp sản xuất cà phê chồn đầu tiên được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích

Ông Hoàng Mạnh Cường

Ông Hoàng Mạnh Cường sinh năm 1962 tại Đắk Lắk. Phương pháp sản xuất cà phê chồn của ông đã được Cục Sở hữu Trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp văn bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 983 vào ngày 13.6.2012. Cà phê chồn là sản phẩm được sản xuất, chế biến bằng phương pháp duy nhất nhờ vào các enzym có trong hệ tiêu hóa của con chồn. Cà phê và chồn đều được chọn lựa kỹ càng. Chồn ăn cà phê vào cuối buổi chiều, hạt cà phê được thu hoạch lại từ chất thải của chồn vào buổi sáng hôm sau.

Với các quy trình hong gió, phơi, sấy, xát vỏ, rang, đóng gói... nghiêm ngặt tạo ra những sản phẩm cà phê chồn thơm ngon có mùi vị đặc trưng. Cho đến nay, Ông Hoàng Mạnh Cường vẫn đang tiếp tục sáng tạo ra những quy trình mới để mang lại những giá trị độc đáo cho cà phê Việt Nam

“Ngày sở hữu trí tuệ thế giới” (World Intellectual Property Day – viết tắt là IP Day) ra đời vào năm 2000 khi các quốc gia thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quyết định ngày 26 tháng 4 hàng năm - ngày mà Công ước WIPO chính thức có hiệu lực vào năm 1970 - là ngày để các quốc gia cùng nhau gia tăng sự hiểu biết chung về IP trên toàn thế giới.

Kể từ đó, “IP Day” đã trở thành một ngày mà mọi người trên thế giới này cùng nhau tìm hiểu và cổ vũ cho những đóng góp của IP đối với sự phát triển của văn hóa nghệ thuật, công nghệ và những đổi mới sáng tạo vì cuộc sống con người.

 


TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM Công bố thông tin ngày 26/3/2016