Đền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, giữa đất Phong Châu, ngày nay là xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ. Phong Châu là đế đô của nước Văn Lang, từ 40.000 năm trước. Đấy là đất Tổ của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng là nơi hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và lễ hội đền Hùng là thể hiện hết sức cụ thể, sinh động và thiêng liêng truyền thống cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
"Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Đà, non nước vẫn quay về Đất Tổ.
Văn minh đương buổi mới, con Hồng, cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ Mồ ông".

Trên đỉnh núi là đền Thượng (Kính Thiên Lĩnh điện), xưa kia là nơi tổ tiên người Việt thờ Trời và thần Lúa
Tương truyền, xa xưa, các vua Hùng lựa chọn nhiều nơi, cuối cùng mới tìm được thánh địa này để đóng đô. Nơi này ở phía trước có sông tụ hội, hai bên có núi chầu hầu. Bãi sông tiện lợi cho sinh hoạt nhân dân. Đất đai màu mỡ thích hợp việc cày cấy, trồng trọt. Đất gò đồi cao thuận lợi việc lập ấp mở làng. Ngày nay, những dấu tích phát hiện được trong các đợt khai quật khảo cổ ở Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Làng Cả... cho thấy quanh vùng đất Phong Châu đều có tính chất tiêu biểu. Điều này chứng minh rằng đây là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ thời Hùng Vương. Cuộc sống vật chất và tinh thần của con người ở đây đã đạt tới đỉnh cao văn minh lúc bấy giờ. Theo sử cũ, sau khi định đô ở Phong Châu, các vua Hùng đã chọn núi Nghĩa Lĩnh làm nơi tế trời đất, chủ thần và tiên tổ. Với những cái tên được gọi qua nhiều thời điểm khác nhau như là: Hy Chương, Nghĩa Cương, Hùng Lĩnh, núi Hùng, núi Nghĩa Lĩnh cao 175m, nằm trên địa phận thôn Cổ Tích. Cây cối ở đây um tùm, xung quanh là gò đồi nhấp nhô trùng điệp.Tương truyền có tất cả 99 ngọn đồi vốn là 99 con voi có nghĩa phủ phục chầu núi Tổ, riêng có 1 con bất nghĩa, quay ngược lại bị chém đầu. Vì vậy, vùng này có một quả đồi có vết xẻ thành khe.
(1).jpg)
Vùng núi Nghĩa Lĩnh (núi Hùng) xưa
Theo các tài liệu khoa học, quần thể Đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng (năm 968 – 979). Sau đó, đến khoảng thế kỷ XV, dưới thời Hậu Lê, toàn bộ khu di tích được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện nay. Đền Hùng có tổng diện tích 845 ha với 4 ngôi đền, 1 ngôi chùa, 1 lăng cùng nhiều hạng mục kiến trúc khác, phân bố từ chân núi lên đến đỉnh núi, hài hòa với tổng thể cảnh quan hùng vĩ. Qua thời gian, nhiều di tích trong quần thể Đền Hùng đã được tôn tạo và xây dựng bổ sung nhưng vẫn giữ được nét cổ kính, nghiêm trang.
.png)
Cổng đền được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh vào năm Khải Định thứ 2 (1917), dạng vòm cuốn, cao 8,5m, gồm 2 tầng, 8 mái... Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc mái trang trí rồng, đắp nổi hai con nghê. Mặt trước của cổng đắp nổi phù điêu hai võ sĩ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hình hổ phù.
.png)
Đền Hạ được xây dựng lại trên nền cũ, vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII, kiểu chữ “nhị”, gồm tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m, kiến trúc đơn sơ, kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc phẳng, không trang trí, mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.
.jpg)
Du khách phải trèo lên 255 bậc đá để đến Đền Hạ. Tương truyền rằng nơi đây, mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai, nguồn gốc của cộng đồng người Việt, nghĩa “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây.
Chùa Thiên Quang được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các toà Tiền đường (5 gian), Thiêu hương (2 gian), Tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lợp ngói mũi, có đầu đao cong. Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo lối Đại thừa. Trước sân chùa có 2 tháp sư, hình trụ, 4 tầng; trên nóc đắp hình hoa sen; lòng tháp xây rỗng; cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa. Chùa còn có một gác chuông, được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo kiểu chồng rường kết hợp với bẩy kẻ. Các bẩy, kẻ hầu như để trơn, không chạm trổ. Quả chuông treo trên gác không ghi niên đại đúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây đạo, Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”. Đây là công trình kiến trúc cổ duy nhất còn tồn tại trong Khu di tích lịch sử Đền Hùng.
.png)
Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu) nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian, quay về hướng Nam, dài 7,2m, rộng 3,7m; mái hiên cao 1,8m. Bộ vì kiểu kèo cầu quá giang gối vào tường, phía trước mở 3 cửa. Đền Thượng (Kính Thiên lĩnh điện) được xây dựng trên nền cũ của ngôi miếu thờ thần núi, thần lúa, Thánh Gióng…, là nơi các vua Hùng thường tiến hành các nghi thức cầu khấn trời đất, mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cho muôn dân được ấm no, hạnh phúc. Ban thờ trong đền có bài vị của 18 đời vua Hùng (Hùng đồ thập bát thế Thánh vương Thánh vị) và ba vị thần núi: Đột Ngột Cao Sơn (núi Nghĩa Lĩnh), Áp Sơn (núi Trọc), Viễn Sơn (núi Vặn), hai bên trước cửa đền là hai cột đá, tương truyền do An Dương Vương dựng lên, thề muôn đời gìn giữ giang sơn gấm vóc họ Hùng.
.jpg)
.png)
Cột đá thề nằm bên trái Đền Thượng. Theo tương truyền, đời Hùng Vương thứ 18 không có con nối dõi nên đã truyền ngôi cho người một người cháu họ là Thục Phán. Sau khi lên ngôi, Thục Phán đã cho dựng nên cột đá này để thề với non nước, đất trời và nhân dân rằng: Nước Nam sẽ mãi trường tồn, miếu thờ Hùng Vương sẽ còn mãi mãi. Thục Phán về sau lấy hiệu là An Dương Vương, đặt tên đất nước là Âu Lạc, dời đô về thành Cổ Loa
.png)
.png)
Bức phù điêu lớn tại khuôn viên khu di tích được đúc bằng chất liệu đồng, có hình vòng cung với chiều dài 28,16m; cao 10,99 m. Đây là bức phù điêu mới được thay từ cuối năm 2024, do bức phù điêu bằng đá cũ đã xuống cấp, cũng là điểm các đoàn khách checkin trong cuối hành trình dâng hương tại đền Hùng

Ngày 19/9/1954, tại Đền Giếng, một di tích trong quần thể di tích lịch sử văn hóa Đền Hùng, Bác Hồ đã có buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 (Đại đoàn quân Tiên phong) trên đường về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của Di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử đền Hùng là Di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1272/QĐ-TTg, ngày 12/8/2009).
Lễ hội Đền Hùng Phú Thọ được tổ chức từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch. Từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 5 sẽ là lễ dâng hương, được thực hiện bởi lãnh đạo các quận, huyện Phú Thọ. Ngày mùng 6 tổ chức lễ giỗ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân và dâng hương lên Tổ Mẫu Âu Cơ. Mùng 7 là ngày tổ chức lễ rước kiệu Vua Hùng, đây là một trong những hoạt động quan trọng nhất của lễ hội Đền Hùng. Đến ngày mùng 10 âm lịch là lễ chính, diễn ra các hoạt động và lễ nghi quy mô lớn nhất.

Đền Hùng không chỉ là một di tích lịch sử đặc biệt mà còn là biểu tượng thiêng liêng của nguồn cội dân tộc Việt Nam. Trải qua bao thăng trầm của thời gian, nơi đây vẫn giữ vẹn nguyên giá trị tinh thần, trở thành điểm hội tụ của lòng thành kính, niềm tự hào và ý thức hướng về tổ tiên. Từ mạch nguồn ấy, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa, góp phần hun đúc bản sắc văn hóa và sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt qua mọi thời đại.
-------------------------------------------------------------------
TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM (VIETKINGS)
01 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: (0283) 8 477 477
Đăng ký Kỷ lục: 0908 254 258 - 08 333 68 555

