WOWTIMES - VIETKINGS] Nghệ thuật sân khấu Dù Kê tại TP. Cần Thơ: Nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa Khmer Nam Bộ - Top các di sản tiêu biểu tại 34 tỉnh, thành Việt Nam (P.18)

28-05-2026

(WOWTIMES - VIETKINGS) Đồng bào Khmer Nam bộ trong quá trình lao động, sản xuất, dựng xây cuộc sống đã sáng tạo ra kho tàng văn học, nghệ thuật vô cùng phong phú, độc đáo, trong đó có nghệ thuật sân khấu kịch hát Dù Kê.

 

Nếu nghệ thuật sân khấu Rô băm hình thành từ xa xưa trong cộng đồng người Khmer thuộc thể loại kịch múa cổ điển, có nguồn gốc từ biểu diễn phục vụ cung đình, thì nghệ thuật Dù Kê chỉ mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 thuộc thể loại ca kịch dân gian, được sinh ra từ nhân dân lao động vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Trong đó, Cần Thơ là địa phương phát triển mạnh nghệ thuật Dù kê với nhiều ban, gánh, đoàn nghệ thuật khác nhau biểu diễn phục vụ đông đảo đồng bào Khmer Nam Bộ.

 

 

Dù Kê còn có tên gọi khác là Lakhôn Bassắc, nghĩa là kịch hát của người Khmer ở vùng sông Bassắc (sông Hậu)

 

Hát Dù Kê (tiếng Khmer: យីកេ) là loại hình kịch hát truyền thống của người Khmer, còn được gọi là “Lakhon Dù kê” (tiếng Khmer: ល្ខោន យីកេ, nghĩa đen là “nhà hát Dù kê”). Đây là nghệ thuật sân khấu tổng hợp, kết hợp ca hát, múa cùng với các nhạc cụ truyền thống và hiện đại, tạo nên bản sắc độc đáo trong đời sống văn hóa của đồng bào Khmer. Dù Kê là một đặc sản của người Khmer Nam Bộ, phát triển sang đất nước Campuchia vào những năm 1930 dưới tên gọi là La khon Bassac (sân khấu vùng Bassac). Nghệ thuật sân khấu này được biểu diễn ở hầu hết các tỉnh của Campuchia và cộng đồng Khmer Krom ở miền Nam Việt Nam. Người Khmer Krom sử dụng thuật ngữ Dù kê, trong khi cộng đồng Khmer ở Campuchia gọi loại hình này là Lakhon Bassac. Dù kê có thiết kế giống như Tuồng, Cải lương của người Việt và Kinh kịch của người Trung Quốc

Nghệ thuật sân khấu Dù Kê ra đời khoảng thập niên 20 - 30 của thế kỷ XX. Ban đầu, các nghệ nhân, diễn viên nghệ thuật Dù Kê tập luyện và biểu diễn trong môi trường thiên nhiên, lấy mặt đất làm sân khấu, lấy lá cây, nhánh cây che tạm, dựng lều trại, phong cảnh như cái giàn bầu nên người dân gọi là “sân khấu giàn bầu” (Lo - khôn Trơn Khlốk). Từ năm 1930, sân khấu Dù Kê Khmer Nam bộ không ngừng bổ sung yếu tố mới để ngày càng hoàn thiện mình.

 

 

 

Năm 1921, ông Lý Cuôn (Chhà Kọn) ở Sóc Trăng – một trí thức Khmer lai Triều Châu – đã thành lập đoàn Dù Kê đầu tiên mang tên “Tự Lập Ban”, mở ra bước ngoặt lớn cho nghệ thuật sân khấu Khmer Nam Bộ. Với niềm đam mê và tâm huyết, ông mời thầy Sua từ Trà Vinh về truyền dạy, đưa loại hình nghệ thuật này từ sân khấu giàn bầu lên sân khấu có cảnh trí sơn thủy. Năm 1927, đoàn lần đầu sang Campuchia biểu diễn, gây tiếng vang lớn và được khán giả nơi đây gọi bằng cái tên trìu mến “Lo Khôn Ba Sắc”. Từ thập niên 1930, nhiều đoàn Dù Kê khác ra đời như Tự Lập Thành, Tổ Lập Thành, Võ Lập Thành, Hoa Nở…, góp phần đưa Dù Kê phát triển cực thịnh trong giai đoạn 1936–1942, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người Khmer Nam Bộ cũng như Campuchia. Tuy nhiên, do mâu thuẫn nội bộ và biến động xã hội, nhiều đoàn dần suy yếu và tan rã, đến năm 1972 thì “Tự Lập Ban” cùng một số đoàn khác chính thức biến mất.

Sau năm 1975, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sân khấu Dù Kê được phục hồi và phát triển trong các đoàn nghệ thuật Khmer chuyên nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt từ thập niên 1980, tại Sóc Trăng xuất hiện thêm các đoàn Dù Kê tư nhân như Ánh Bình Minh, Ron Ron, Tân Nguyệt Quang…, tiếp tục duy trì sức sống cho loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo này, góp phần khẳng định giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của đồng bào Khmer Nam Bộ.

 

 

Từ khi ra đời, hình thành và phát triển, sân khấu Dù Kê đã trải qua những bước thăng trầm, vượt qua những cam go thử thách để tồn tại cho đến ngày nay. Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ nói chung trong đó có Sóc Trăng (Cần Thơ mới) tuy có giảm về số lượng nhưng chất lượng nghệ thuật luôn được quan tâm cải tiến để nâng cao trình độ nghệ thuật trên các mặt: biên kịch, đạo diễn dàn dựng, thiết kế cảnh trí sân khấu, phục trang, âm nhạc, nghệ nhân, diễn viên,…

Các nhạc cụ Khmer cổ truyền thường sử dụng trên sân khấu Dù Kê là đàn khưm, giàn nhạc pưnpết (ngũ âm) và nhiều nhạc cụ dân tộc khác. Trung bình, thời gian biểu diễn một vở tuồng Dù Kê dài khoảng 4- 5 giờ đồng hồ. Nghệ thuật hóa trang trong Dù Kê chủ yếu là hình thức tô phấn, thoa son, vẽ mặt theo những quy định bắt buộc riêng, phải đậm và màu sắc rõ ràng. Việc hóa trang phải theo tính cách của nhân vật, ngoài màu trắng nền còn có màu đỏ hồng (cho con người); màu đỏ, đen (vai chằn, vai động vật có tính phép thuật); màu xanh két (vai thần tiên)… 

 

 

 

Tích tuồng các vở Dù Kê thường thể hiện lại các truyền thuyết, huyền thoại của dân tộc Khmer như: “Linh-thôn”, “Sac-kinh-ni”…; được rút ra từ các trường ca của Ấn Độ: “Ramayana” và “Mahabharada”; những điển tích, truyền thuyết của các dân tộc anh em như: “Thạch Sanh chém chằn”, “Tấm Cám”… của người Kinh, “Trụ vương mê Đắc Kỷ”, “Tam Tạng thỉnh kinh”, “Phàn Lê Huê – Tiết Đinh San”… của người Hoa. Điều này cho thấy sự đa dạng, giao thoa văn hóa trong nghệ thuật Dù Kê. 

 

 
Hình tượng chằn trong sân khấu Dù Kê

 

Các bài hát Dù Kê có sự phân chia rõ ràng, với điệu thức dành cho giọng nam và giọng nữ. Theo khảo sát, có tất cả 163 làn điệu, bài hát ở các thể loại khác nhau, bao gồm: 34 bài hát Dù Kê Khmer Nam bộ chính thống; 22 bài hát có nguồn gốc ảnh hưởng từ thể loại sân khấu hát Tiều của người Hoa; 16 bài hát có nguồn gốc ảnh hưởng từ bài ca, bản nhạc của châu Âu, mà chủ yếu là Pháp; 91 bài hát có nguồn gốc ảnh hưởng từ loại hình nghệ thuật sân khấu khác, như: sân khấu Dì kê, Mahôri (Campuchia) và một ít bài ảnh hưởng từ các nước trong khu vực, như Lào, Thái Lan, Singapore và Myanmar. Tất cả các làn điệu, bài hát dù chịu ảnh hưởng từ nền văn hóa khác đều được Dù kê hóa mang âm hưởng, sắc thái của người Khmer rất đậm nét, hầu hết các bài ca khi kết thúc đều có một điểm chung là hò đệm của tập thể bên trong sân khấu. 

Trong 163 làn điệu, bài ca của sân khấu Dù Kê, có thể phân chia thành 5 nhóm theo tính chất khác nhau: nhóm bài bản hát tập thể khi cúng Tổ; nhóm thể hiện tâm trạng vui của các nhân vật; nhóm thể hiện tâm trạng buồn của các nhân vật; nhóm thể hiện tâm trạng giận hờn của các nhân vật, nhóm về tình yêu… Thể loại bài bản Dù kê cũng phong phú, đa dạng, gồm các bài Lôm; bài Nô kô rek; bài bản cho giọng nữ, giọng nam, nhân vật đặc thù như thợ săn, thần tiên, chằn nam, chằn nữ, vai hề,… Đề tài và nội dung kịch bản của sân khấu Dù Kê rất phong phú và mang tính giáo dục cao. Dù Kê luôn có mặt trong các hoạt động lễ hội và sinh hoạt của người Khmer, góp phần giáo dục người dân về lòng nhân ái vị tha, tình yêu quê hương đất nước đậm đà, sâu lắng, đồng thời đề cao đạo lý làm người, hướng thiện, ca ngợi điều tốt đẹp, thiện lương; lên án cái ác, cái xấu; hướng con người đến ý thức đấu tranh chống lại những bất công của xã hội, đem lại cuộc sống yên bình.

 
 

Đề tài và nội dung kịch bản của sân khấu Dù kê rất phong phú và mang tính giáo dục cao. 

 

Vũ đạo, vũ thuật trong Dù Kê phát triển trên cơ sở võ thuật của dân tộc nhưng được khái quát hóa đạt đến trình độ nghệ thuật cao và phân chia ra từng nhóm động tác vũ đạo, vũ thuật cho từng nhóm nhân vật biểu diễn. Có 13 nhóm động tác vũ đạo lớn cơ bản, gồm các loại động tác vũ đạo dành cho người (10 loại động tác), vũ đạo dành cho chằn (02 động tác), vũ đạo dành cho con vật (01 động tác); 04 nhóm động tác vũ đạo nhỏ cơ bản, gồm: vũ đạo con khỉ, con cá, con voi, con rồng; và 06 nhóm động tác vũ thuật cơ bản để biểu diễn trong giao đấu của các nhân vật, gồm: vũ thuật đấu bằng tay, dao ngắn, đấu kiếm, đấu bằng gậy, đấu bằng đao và bằng cây cung.

 

 

Năm 2014, Nghệ thuật sân khấu Dù Kê đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vât thể cấp quốc gia. Bên cạnh đó, loại hình sân khấu nghệ thuật này nằm trong danh sách 12 di sản văn hoá phi vật thể được Bộ VH-TT&DL dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO giai đoạn 2012-2016. 

Biểu diễn Dù Kê không hề dễ, người thể hiện phải có năng khiếu cả về ca, múa, cảm thụ văn học, cảm thụ âm nhạc và diễn xuất. Muốn theo nghề, người nghệ sĩ phải có niềm đam mê mãnh liệt với sân khấu truyền thống của dân tộc mình. Dù Kê thường được biểu diễn tại những ngôi chùa Khmer trong dịp lễ hội như Tết Chol Chnam Thmay, lễ Sen Dolta, lễ Ok Om Bok… hay trong các sinh hoạt văn hóa văn nghệ của cộng đồng. Những nhân vật của các vở diễn xuất hiện trong trang phục lộng lẫy, với động tác múa uốn cong từ đôi tay kỳ diệu của nghệ sĩ đã trở nên quen thuộc với mỗi người Khmer.

 

-------------------------------------------------------------------

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM (VIETKINGS)

01 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: (0283) 8 477 477

Đăng ký Kỷ lục: 0908 254 258 - 08 333 68 555


Mỹ Hằng - WowTimes (Tổng hợp và biên tập, ảnh: Internet)