[VietKings – TOP XUÂN 2023] Thú chơi tranh ngày Xuân và TOP các làng tranh Tết độc đáo của Việt Nam

28-12-2022

(kyluc-top) – Cứ mỗi độ xuân về, tranh Tết xuất hiện làm cho không khí đón chờ năm mới càng thêm náo nức, tưng bừng. Theo quan niệm của nhiều người, việc treo tranh, chơi tranh không đơn giản là chơi cho có không khí Tết, mà bức tranh được trang trí tạo nên không gian sang trọng, mới mẻ cho căn phòng.

Các cụ ta có câu "Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ mộc" đó là 4 thú chơi tao nhã của người Việt xưa. Không ai biết chính xác thú chơi tranh dân gian ngày Tết bắt đầu từ bao giờ, có người cho rằng thú chơi này xuất hiện vào thời Trần (1225-1400), nhưng cũng có người nói nét văn hóa độc đáo này bắt đầu còn sớm hơn, từ thời nhà Lý (1010-1225). Cứ mỗi độ Xuân về, tranh Tết xuất hiện làm cho không khí đón chờ năm mới thêm náo n��c, tưng bừng. Thường sau ngày đưa ông Táo, dù nhà giàu hay nghèo người ta cũng đi chợ lựa mua những bức tranh Tết với hy vọng đón vinh hoa, phú quý về nhà, gỡ tranh cũ xuống treo tranh mới lên với hàm ý “Tống cựu, nghinh tân”.

 

 

Chơi tranh ngày Tết khá đa dạng, muôn hình muôn vẻ tùy thuộc phong tục địa phương, địa vị, phẩm hàm trong xã hội của chủ nhân mà thú chơi cũng có ít nhiều khác nhau, tuy nhiên dù giàu có hay nghèo khó mỗi dịp Tết đến xuân về mọi gia đình người Việt thường có những bộ tranh dân gian trong nhà để đón năm mới. Nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Tranh Tết là một phần hồn Việt trong lành, nhân hậu. Màu sắc rực rỡ trong những bức tranh Tết khơi gợi cảm giác mới mẻ, ấm cúng, rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình, đồng thời tranh Tết cũng là nơi lưu giữ những giá trị tâm linh sâu sắc của người Việt và chính thế nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa.

Ngày trước, với các gia đình ở nông thôn, nhà tranh vách đất có thể trang hoàng với những tờ tranh nhỏ, giá cả phải chăng. Còn đối với gia đình ở thành phố, việc treo tranh, chơi tranh không đơn giản chỉ là chơi cho có không khí Tết, mà bức tranh còn đồng thời là vật trang trí để kiến tạo nên được một không gian sang trọng và quý phái, chứng tỏ được cái lễ giáo gia phong của gia đình. Ngoài cổng, thường dán hai bức tranh, một bên là ông Tiến tài, một bên là ông Tiến lộc, với mong muốn đón nhiều tài lành, phúc ấm cho gia chủ. Cũng có nhà dán cặp tranh thần hộ mệnh là những ông tướng nhà trời để xua đuổi ma quỷ, bảo vệ cho gia đình một năm mới an khang, thịnh vượng. 

 

 

Trong nhà, thường treo hay dán nhiều tranh với một số đề tài được ưa chuộng trong dịp Tết như: tranh ”Mẹ con đàn gà” và ”Mẹ con đàn lợn” thể hiện cảnh sinh hoạt dân dã, với ước vọng gia đình đông vui, hòa thuận, khát vọng sung túc cả năm; tranh ”Vinh Hoa,” ”Phú Quý” với cậu bé mũm mĩm ôm gà, ôm vịt tượng trưng cho điềm phúc; tranh ”Tố nữ” thể hiện vẻ đẹp dịu dàng, mới mẻ và thân thuộc giữa con người với thiên nhiên; tranh ”Tứ quý” thể hiện ước vọng bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông luôn tràn ngập âm thanh vui tươi; tranh ”Lý ngư vọng nguyệt” ý nói người học trò mong mỏi thi đỗ ví như cá chép vượt vũ môn hóa rồng; tranh ”Thất đồng” vẽ bảy em bé vui chơi với cây đào tiên đang ra hoa kết trái, thỏa mãn mong ước của con người về một cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc hay bộ tranh ”Tam đa” tượng trưng cho phúc đức, tài lộc và sống lâu…

Bên cạnh những bức tranh Tết mang đậm sắc thái văn hóa, lịch sử, tâm linh, nhiều người còn dành vị trí trang trọng trong không gian ngôi nhà để đón chào năm mới bằng những bức vẽ hình con giáp đại diện cho năm đó. Như vào năm Tý người ta có thể treo tranh “Đám cưới chuột”; năm Sửu treo tranh “Chăn trâu thả diều”, “Chăn trâu thổi sáo” của dòng tranh dân gian Đông Hồ... 

Nghề làm tranh đã lan truyền rộng rãi hầu khắp cả nước, và tập tục chơi tranh cũng từ đó mà ăn sâu vào tiềm thức của của người dân, những dòng tranh xuất hiện, được gọi tên theo địa danh nơi sản xuất với những phong cách riêng của mình. Nét riêng của mỗi dòng tranh chính là sự khác biệt giữa kỹ thuật khắc ván in, kỹ thuật vẽ, nguyên liệu làm tranh, cách pha chế tạo màu sắc riêng...

Làng tranh Đông Hồ

Mỗi dịp Tết đến, xuân về, bên cạnh câu đối đỏ bao giờ người ta cũng treo những bức tranh Tết Đông Hồ - một phần đặc sắc của dân tộc. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu ý nghĩa của chúng. Một cái Tết cổ truyền đầy đủ, không thể nào thiếu vắng tranh Đông Hồ với những nét vẽ giản dị nhưng lại mang những hàm ý sâu xa.

Tranh Đông Hồ là dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Tranh được in trên giấy điệp với màu tự nhiên: màu đen lấy từ than gỗ xoan, rơm nếp hay than lá tre được ngâm kĩ trong chum vại vài tháng rồi mới sử dụng; màu xanh lấy từ gỉ đồng hay lá chàm - lá này thường được người vùng dân tộc thiểu số phía Bắc dùng để nhuộm quần áo; màu vàng lấy từ hoa giành giành, hoa hòe; màu đỏ lấy từ gỗ vang và sỏi son trên núi Thiên Thai; màu trắng lấy từ điệp. Những chất màu thô này được trộn với nhau và hòa với một lượng bột nếp trước khi in để tạo một lớp hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô. Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét thường được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực.

Những hình ảnh được vẽ trên tranh rất đơn giản và thân thuộc như con lợn, con gà... Người ta mua tranh Đông Hồ về treo trong những ngày đón xuân như mang về cho cả gia đình niềm hy vọng tốt đẹp và gửi gắm vào đó những lời cầu chúc cho năm mới, khi thì là con cái chăm ngoan, con đàn cháu đống, khi thì là phúc lộc đủ đầy.

 

Tranh Tiến tài - Tiến lộc: Trên mỗi bức tranh là một vị thần, một tay nâng bức quấn thư tượng trưng cho việc học hành, tay kia nâng biểu tượng thần quyền. Tranh Tiến Tài có chữ “Tài hằng nguyên chi” tượng trưng cho của như nước nguồn, tranh Tiến Lộc có chữ “Lộc vị cao thăng” tượng trưng cho lộc ngày càng tăng. Hai bức tranh thể hiện mong ước được thần tài phù trợ của người nông dân ngày xưa.

 

Tranh Vinh hoa - Phú quý: Mang nhiều ý nghĩa tốt lành, là sự cầu mong gia đình được đầy đủ vinh hoa phú quý, con đàn cháu đống, hạnh phúc viên mãn.

 

Tranh Đàn lợn Âm Dương: Theo quan niệm xưa, con lợn là con vật đẹp nhất, tượng trưng cho sự ấm no, sung túc; hình ảnh xoáy âm dương trên mình lợn thể hiện sự sinh sôi, nảy nở. Treo tranh vào ngày Tết để thể hiện mong ước năm mới thịnh vượng, phát tài phát lộc, đông con nhiều cháu.

 

Tranh Lý ngư vọng nguyệt: Bức tranh này thường được đặc biệt treo vào dịp Tết ở những nhà năm đó có người phải thi cử. Bức tranh hàm ý hy vọng người học trò học hành chăm chỉ rồi sẽ đến lúc vượt vũ môn thành công như “cá chép hóa rồng”. Ngoài ra, cá chép từ lâu đã trở thành đại diện cho sự may mắn, tài lộc và thịnh vượng.

 

Tranh Đàn gà mẹ con: Treo bức tranh đàn gà trong nhà ngày Tết là ước nguyện của con người về một mái ấm hạnh phúc. “Nhà đông con là nhà có phúc” chính là mong trong nhà có đông con nhiều cháu. Trong năm mới con cháu đều khỏe mạnh là cuộc sống sung túc đề huề con cháu

 

Làng tranh Hàng Trống

Tranh Hàng Trống là một trong những dòng tranh dân gian Việt Nam được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống của Hà Nội xưa. Hàng Trống trước đây thuộc đất cũ của thôn Tự Tháp, tổng Tiền Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Phố Hàng Trống hiện nay nằm kề các phố Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Quạt... 

Loại giấy được sử dụng trong tranh hàng Trống là giấy có chiều dài, rộng và nền trơn để họa sĩ có thể dễ dàng trong việc vẽ tranh.​Tranh sau khi được in và in ván gỗ thì người nghệ nhân sẽ tiếp tục bồi giấy nhằm giúp bức tranh nổi bật với những nét vẽ đậm và rõ ràng hơn. Tất cả các công đoạn để làm loại tranh này đều được thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ và khéo léo nhằm tạo ra những sản phẩm đảm bảo chất lượng cao. Sau khi hồ khô người nghệ nhân sẽ vẽ thêm màu lại một lần nữa. Thông thường, những bức tranh thành phẩm cần phải mất từ 3 – 4 ngày. Bức tranh sau khi được hoàn thành sẽ được lồng trục vào hai đầu để treo trên tường.

Khi xem tranh Hàng Trống, bất kì người nào cũng có ấn tượng về một dòng tranh sinh động, có thần thái rõ ràng. Vì thế, tranh Hàng Trống xưa kia đã đáp ứng được thị hiếu của tầng lớp thị dân trên mảnh đất Thăng Long văn hiến. Mặc dù cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào cho biết đích xác thời điểm ra đời cũng như điều kiện ra đời của dòng tranh dân gian Hàng Trống. Nhưng những tác phẩm để lại thực sự là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo; giữa loại hình tượng thờ, điêu khắc ở đình, chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá hằng ngày.

 

Cá chép vượt vũ môn là bức tranh Hàng Trống được treo phổ biến vào ngày Tết. Có nguồn gốc từ một tích truyện cổ Trung Hoa, bức tranh gửi gắm lời chúc đỗ đạt trong thi cử.
 

Tranh Tố nữ thể hiện hình tượng của bốn cô gái đẹp đang diễn tấu các loại nhạc cụ như đàn nguyệt, sáo trúc, điểm phách và múa quạt, là lời chúc cho năm mới niềm vui ngập tràn mọi nếp nhà.
 

Tranh Tứ bình hay Tứ quý bốn mùa là bức tranh khắc họa bốn loại cây Tùng - Cúc - Trúc - Mai tượng trưng cho bốn mùa trong năm là Xuân - Hạ - Thu - Đông. Bốn loại cây này là bốn loại cây tượng trưng cho những tính cách tốt đẹp, cao quý của con người.
 

Tranh Tam Đa: Đa Phúc, Đa Lộc, Đa Thọ mang ý nghĩa chúc tụng trường thọ, lắm con nhiều cháu, làm quan nhiều bổng lộc.
 

Tranh Thất đồng (Bảy đứa trẻ) thể hiện ước vọng đông con cháu để nối dõi.
 

Làng tranh Kim Hoàng

Cùng với tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống, dòng tranh đỏ mang tên làng Kim Hoàng là một dòng tranh dân gian đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc bộ xưa kia. Tranh dân gian Kim Hoàng ngày xưa được gọi là tranh đỏ bởi thường được in trên giấy hồng điều, khác với tranh Hàng Trống hoặc tranh Đông Hồ in trên giấy trắng mộc hoặc giấy trắng điệp. Màu của tranh, ngoài màu đỏ làm nền còn có màu đen khi in từ ván gỗ lên giấy và màu trắng, vàng, xanh lá cây, xanh da trời, chàm, tím, hồng…được vẽ, tô sau khi in xong. 

Dòng tranh này phát triển khá mạnh trong khoảng thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX. Chủ đề tranh Kim Hoàng quen thuộc với đời sống người dân nông thôn như tranh gà, lợn, cuộc sống đồng quê… Tranh Kim Hoàng cũng có các thể loại tranh Tết, tranh thờ… đáp ứng nhu cầu trang hoàng nhà cửa, cầu phúc, cầu lộc dịp Tết đến xuân về, cho đến xua đuổi tà ma, giữ cho cửa nhà yên ấm… của người dân.

Sự khác biệt khi in tranh Kim Hoàng với các dòng tranh khác là in ngửa và in hai lần, lần đầu là “in nhá” để tạo những nét mờ, sau đó nghệ nhân dùng bút tô màu, lần hai gọi là “in đổ” để làm nổi bật các đường nét. Kỹ thuật tô màu thể hiện mức độ chuyên nghiệp và tài nghệ của nghệ nhân, nét bút mạnh mẽ phóng khoáng, bút pháp linh hoạt, coi trọng sự chắc khỏe, đơn giản, khúc chiết. Màu sắc tranh Kim Hoàng tươi tắn, rực rỡ và ấn tượng với những màu đỏ hiên, đỏ điều, đỏ sen, vàng yến, được chế biến từ những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên, qua thời gian vẫn giữ gìn được sắc thắm buổi ban đầu. Trên mỗi bức tranh thường có đại tự, thơ, có khi là những câu bùa trấn yểm để nhà cửa được bình yên, may mắn.

 

Lợn độc. Khác với các tranh lợn hoàn toàn khắc in – không vẽ tay của Đông Hồ, Hàng Trống, Làng Sình…, lợn Kim Hoàng được in trên nền giấy đỏ điều và chỉ in duy nhất bản mảng đen làm nền thân hình con lợn, sau đó nghệ nhân thả sức vẽ tay để tả mọi chi tiết như mắt, mõm, tai, đường viền tổng thể. Việc lựa chọn vẽ cái lon đựng cám hay lá ráy trước mõm lợn đều dựa trên ý muốn của người thợ Kim Hoàng.
 

Thần kê (Gà thần). Gà thần là biểu hiện của phương Đông, trấn trị tà ma, giúp cho gia chủ sống lâu muôn tuổi. Đôi gà trống trong tư thế đang cúi xuống tìm mồi, bộ lông mượt mà, đuôi dài vút cong, mào hình lá chỏm nhọn, hai chân dạn dày với cặp cựa dài kiêu hãnh.
 

Cặp Ông Phúc – Ông Thọ in trên giấy xuyến chỉ. Ông Phúc cầm quả lựu (“Lựu khai bách tử”) hàm ý đông con nhiều cháu. Ông Thọ cầm quả đào (“Đào hiến thiên xuân”) tượng trưng cho sự trường thọ.
 

 

Làng Sình

Làng Sình được hình thành khá sớm ở đàng Trong, nằm ven sông Hương. Từ giữa thế kỷ XVI đã được Dương Văn An nhắc đến trong "Ô châu cận lục" như một điểm giao thương nhộn nhịp. Làng Sình có thời từng được gọi là làng Hồ Điệp, một làng nghề làm tranh truyền thống ở xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngôi làng cổ này có những đặc điểm văn hóa đa dạng, độc đáo, đặc biệt là nghề in tranh dân gian, làm hạt bỏng để cúng lễ.

Về kỹ thuật và chất liệu, tranh làng Sình cũng có nguồn gốc tương tự như tranh dân gian Đông Hồ, tranh Hàng Trống nổi tiếng ở miền Bắc. Đó là lối in tranh mộc bản, sử dụng giấy gió hoặc giấy mộc quét điệp để tạo độ óng ánh trên giấy gió và dùng nguyên liệu tự nhiên để tạo màu. Chổi quét điệp cũng được người thợ làm tranh sáng tạo từ những chiếc lá thông. Khi làm ra một bức tranh, bản khắc gỗ chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính, những màu sắc còn lại được nghệ nhân vẽ thủ công, chính vì thế, mỗi bức tranh là một sự sáng tạo khác nhau. Sự tồn tại của tranh làng Sình trải qua bao giai đoạn thăng trầm.

 

Bộ khuôn tranh 

 

Theo lời kể của nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đã có hơn 60 năm gắn bó với làng nghề cho biết: “Dòng tranh này trước đây thường được sử dụng để thờ cúng, tín ngưỡng với gần 50 đề tài chính. Phần lớn đề tài tranh dân gian làng Sình Huế sẽ tái hiện lại những nét tín ngưỡng cổ xưa, tả cảnh sinh hoạt xã hội, các lễ hội Huế truyền thống”.

Các dòng tranh thờ làng Sình được chia thành những loại như sau:

- Tranh nhân vật: Tượng Bà, ông Điệu, ông Đốc và Tờ bếp
- Tranh đồ vật: Quần áo, tiền, dụng cụ gia đình, cung tên, tiền, áo ông/bà, áo binh (có kích thước khá nhỏ)
- Tranh súc vật: Vẽ gia súc, voi, cọp, 12 con giáp để phục vụ đốt vàng mã

 

 


Diệu Phi – VietKings (tổng hợp và biên tập)