[VIETKINGS – TOPPLUS đề cử] TOP 100 loại hình văn hóa – nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam (P.31): Dân ca quan họ – Đằm thắm nét duyên xứ Kinh Bắc

02-03-2023

(kyluc-top) – Kinh Bắc xưa, nay là Bắc Giang - Bắc Ninh được ngăn chia bởi dòng sông Cầu (sông Như Nguyệt), bờ Nam thuộc tỉnh Bắc Ninh còn bên này là Bắc Giang. Cư dân hai bên sông nổi tiếng với những làn điệu dân ca quan họ sâu lắng, mượt mà, những làng quan họ cổ “có lề lối”, với “khuôn vàng thước ngọc”.

Người ơi người ở em về...
Người ơi! Người ở đừng về,
Người ơi! Người ở đừng về
 …
Mà này cũng có a đâu bằng.
Đâu bằng người đợi chúng em
Người ơi người ở đừng về…

Có lẽ không chỉ người dân Việt Nam mà cả không ít những người nước ngoài yêu mến Việt Nam đều có thể cất lên lời hát trữ tình mà da diết của bài quan họ cải biên “Người ơi người ở đừng về” từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam quan" này. Sự thiết tha, đằm thắm, tinh tế, nghĩa tình hầu như đã hội tụ đầy đủ trong những làn điệu dân ca quan họ của trấn Kinh Bắc xưa.

 

Từ xa xưa, dân ca quan họ đã là món ăn tinh thần, một nét sinh hoạt văn hóa đẹp của người dân Kinh Bắc. Đây là những làn điệu dân ca đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ - thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. 

 

Theo Sở Văn hóa Hà Bắc (thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay), trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 có 49 làng quan họ rải rác ở các huyện Tiên Sơn, Yên Phong, Quế Võ, Việt Yên và thị xã Bắc Ninh, với hàng ngàn bài hát lời cổ mộc mạc, dân dã, mang nét đẹp riêng vừa thiêng liêng, vừa cổ xưa mà rất Việt Nam. Mỗi làng quan họ ở Bắc Ninh lại có nét độc đáo riêng.

Vì ra đời từ rất lâu về trước nên quan họ Bắc Ninh có rất nhiều câu chuyện kể về thời điểm ra đời, có ý kiến cho là quan họ có từ thế kỷ 11, số khác cho là từ thế kỷ 17. Tất cả các công trình khảo sát, nghiên cứu từ trước tới nay tuy có khác nhau nhưng đều khẳng định giá trị to lớn của di sản văn hóa phi vật thể quan họ, đặc biệt là dân ca quan họ, loại hình nghệ thuật được coi là cốt lõi của văn hóa xứ Kinh Bắc ngàn năm.

Dân ca quan họ là một hình thức hát giao duyên của những liền anh liền chị, cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, cách hát theo lối truyền thống không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tinh tế của người quan họ.

 

 

Theo quan niệm của người Quan họ, nghệ nhân là những ngưòi có kỹ năng hát “vang, rền, nền, nẩy” điêu luyện, thuộc nhiều bài, nhiều "giọng" Quan họ. Họ chính là những bậc thầy dân gian thực hành việc sáng tạo, lưu giữ và trao truyền vốn di sản quý báu đó cho các thế hệ mai sau nên rất xứng đáng được tôn vinh. Tiếng hát quan họ tạo nên hiệu quả thẩm mỹ chính vì sự kết hợp nghệ thuật cao của âm nhạc-thơ ca-giọng hát người nghệ sỹ quan họ truyền thống hát không nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân ở các làng quê. Trong quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh; còn hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, mừng, hát thờ.

 

 

Nhiều bài quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị “chơi quan họ” ưa thích đến tận ngày nay như: Hừ La, La rằng, Tình tang, Ban kim lan, Cái ả, Cây gạo…"Chơi quan họ" truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức, thưởng thức “cái tình” của bạn hát. Hầu hết các bài quan họ đều theo thể lục bát hay lục bát biến thể, cũng có bài theo thể văn xuôi. Đến nay, có ít nhất 300 bài (giai điệu) quan họ đã được ký âm gồm những đoạn thơ, bài thơ, chủ yếu là thể lục bát do các nghệ nhân quan họ truyền thống bàn giao cho các nhà sưu tầm lưu giữ. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa quan họ, hiện nay nhiều làng ở Bắc Ninh vẫn duy trì được lối chơi văn hóa quan họ với hàng ngàn bài hát lời cổ mộc mạc, dân dã, mang nét đẹp riêng, vừa thiêng liêng, vừa cổ xưa mà rất Việt Nam.

 

Nét độc đáo của quan họ Bắc Ninh chính là ở sự hòa quyện tuyệt diệu giữa giai điệu và lời ca, giữa trang phục truyền thống độc đáo gắn với cách ứng xử văn hóa của các liền anh, liền chị.

 

Trang phục quan họ không chỉ thể hiện tính nghệ thuật thẩm mỹ, là hình thức bên ngoài mà nó còn bao hàm cả chiều sâu văn hóa của người quan họ. Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Trang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy," nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy), với màu sắc đa dạng, rực rỡ. Liền chị mặc váy dài màu đen, chít khăn mỏ quạ và đội nón quai thao.

 

Những câu ca quan họ mượt mà sâu lắng đã trở nên vô cùng quen thuộc với người dân trong nước và quốc tế, với những hình ảnh gợi nhớ đến một ngôi làng yên ả vùng Bắc Bộ, với những cô gái mặc mớ ba mớ bảy đội chiếc nón quai thao duyên dáng, cùng những chàng trai áo the khăn xếp đang đối đáp giao duyên.

 

Văn hoá quan họ còn là cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm mỗi khi có khách đến chơi nhà "đôi tay nâng chén rượu đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thì say". Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn… rồi ca xướng cho tan canh mãn võ, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy quyến luyến trong câu hát "Người ơi người ở đừng về"tàn canh, giã hội rồi mà quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ "Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này... Người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin"… Và để rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết "Đến hẹn lại lên"… trong mùa hội tới." Quan họ là "ứng xử" của người dân Kinh Bắc, "mỗi khi khách đến chơi nhà", không chỉ "rót nước pha trà" mời khách, mà cùng với đó là những câu hát thắm đượm nghĩa tình: "Mỗi khi khách đến chơi nhà/ đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người một chén cho tôi vui lòng"...

 

 

Ngày hội Xuân là dịp để các bọn quan họ mời bạn đến làng mình, tham gia tế lễ, thăm hỏi gia đình và sinh hoạt ca hát. Mỗi năm vào hội, tất cả các bọn quan họ trong làng đều mời các bọn quan họ kết nghĩa với mình sang chơi. Có những làng như làng Diềm, làng Lũng có hàng chục bọn quan họ nam, nữ và bọn quan họ nào cũng kết nghĩa với bọn quan họ ở làng khác. Trong ngày hội Xuân của một làng quan họ, trai gái quan họ từ các làng, chủ yếu là các làng kết bạn, nô nức rủ nhau đến trảy hội và ca hát. Từng cặp nhóm quan họ kết bạn đứng hát với nhau ngay ở ngoài trời nơi trung tâm hội, như sườn đồi (hội Lim), hoặc sân đình, sân chùa và có khi tỏa ra hát ở mặt đê, ven sông Cầu.

 

Hằng năm, cứ mỗi độ Xuân về, người dân các làng quan họ gốc thuộc xứ Kinh Bắc, dù ở bất cứ nơi đâu cũng trở về quê hương để trẩy hội đình, hội chùa, những lễ hội hết sức độc đáo bởi đã gắn liền với trình diễn quan họ tự bao đời nay.

 

Có thể nói, quan họ luôn được thực hành trong các hoạt động văn hóa, xã hội của cộng đồng, được cộng đồng hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lưu giữ, trao truyền từ nhiều thế hệ trở thành bản sắc của địa phương và lan tỏa trở thành không gian văn hóa đặc thù. Trong những năm qua, môi trường tự nhiên và xã hội của sinh hoạt văn hóa quan họ là các thôn làng được bảo tồn và phát triển. Các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống gắn với sinh hoạt văn hóa quan họ được nhà nước xếp hạng bảo vệ.

 

 

 


Diệu Phi – VietKings (tổng hợp và biên tập)