[VIETKINGS – TOPPLUS đề cử] TOP 100 loại hình văn hóa – nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam (P.39): Nghệ thuật khảm trai – Nghìn năm lưu giữ tinh hoa từ chất liệu xà cừ

10-03-2023

(kyluc–top) – Từ vỏ con trai con ốc sống ở ao hồ, cửa sông, bàn tay khéo léo của người nghệ nhân đã tạo nên vô vàn sản phẩm khảm xà cừ óng ả, sang trọng. Đó là những mặt hàng mỹ nghệ tinh xảo, từ khay, đĩa, ấm, chén, bàn cờ, lọ hoa đến các mặt hàng trang sức như khuyên tai, mặt nhẫn, vòng cổ xà cừ…

Khảm xà cừ - khảm trai, khảm ốc hay cẩn trai và cẩn ốc xà cừ là một nghề thủ công được xem là khá lâu đời tại Việt Nam vì có đường bờ biển dài, có nguồn nguyên liệu dồi dào. Cho nên nghề cẩn xà cừ tại Việt Nam rất phát phát triển và đã được nhắc đến trong sử sách từ thế kỷ thứ III – V từ thời kỳ Bắc thuộc.

 

 

Theo nhiều số liệu về thần tích ghi lại thì tổ nghề vùng hạ lưu sông Hồng là Ninh Hữu Hưng, một vị tướng của vua Đinh và vua Lê. Ông được nhiều làng nghề ở Việt Nam tôn xưng là vị tổ xưa nhất của nghề mộc, nghề chạm khắc gỗ, khảm trai. Ngoài ra, theo các tài liệu ngọc phả sưu tầm, thì ông là một đại thần triều Đinh Tiên Hoàng, giúp triều đình dẹp loạn 12 sứ quân và được vua Đinh giao phụ trách quân dân 6 phủ trong việc xây dựng kinh đô Hoa Lư. Ông cũng là người Họ Ninh đầu tiên trong lịch sử của Việt Nam, các thế hệ họ Ninh hiện nay sinh sống rất đông trong các làng Nghề Truyền thống: Đồ Gỗ Mỹ Nghệ La Xuyên, Ninh Xá xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tôn thờ ông làm Sư Tổ của Làng Nghề. Sau này, sau khi đánh thắng quân Tống, vua Lê Đại Hành cho xây dựng lại cung thất, Ninh Hữu Hưng càng được trọng dụng. Khi vua đi thuyền qua vùng đất Thiết Lâm (tương ứng với các làng La Xuyên, Ninh Xá Hạ ngày nay), thấy đây là một vùng đất rất đẹp nhưng dân cư nơi đây lại vô cùng thưa thớt, chỉ có dăm nhà ʟác đác ven sông, đã cho Ninh Hữu Hưng ở lại đất này. Từ đó, ông định cư tại đây rồi đem cả con cháu, họ hàng đến vùng đất mới lập thành ấp lớn. Ông bỏ tiền chiêu dân, khuyến khích việc canh tác, phát triển nghề thủ côɴԍ, đặc biệt là nghề mộc chạm. Các thế hệ họ Ninh sau này hiện đang sinh sống rất đông trong các làng nghề truyền thống. 

 

Sản phẩm khảm xà cừ xưa. (Ảnh: Tạp chí Thế giới, xuất bản năm 1889 tại Pháp, Public Domain)

 

Theo một giai thoại khác cho rằng tổ nghề vùng Hà Nội sống dưới triều Lý, có tên là Trương Công Thành. Ông cũng là một người thông thạo văn võ và đã từng tham gia trong đội quân của Lý Thường Kiệt. Sau khi rời quân ngũ, ông đã về quê và nghiên cứu, tìm hiểu nghề khảm xà cừ. Vì thế, nhiều người cũng cho rằng ông chính là ông tổ của nghề khảm xà cừ làng Chuôn Ngọ.

 

Miếu thờ ngài Trương Công Thành - một trong những vị Thánh tổ nghề khảm trai Chuôn Ngọ. 
 

Nghề khảm ngày càng phát triển, nhiều chất liệu được ứng dụng hơn. Ban đầu, các nghệ nhân chỉ khảm trên gỗ, sau đó xà cừ hay vỏ sò, vỏ ốc đều có thể trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo của họ. Đến triều Trần, nghề khảm vỏ ốc đã khá điêu luyện. Đỉnh điểm là vào năm 1289, sản phẩm từ khảm được triều đình chọn làm công phẩm gửi tặng nhà Nguyên. Giai đoạn người châu Âu đến Việt Nam cũng là lúc làng khảm tại các địa phương phát triển vượt bậc không chỉ về số lượng mà còn ở chất lượng. Mỗi sản phẩm chạm khảm đã được nâng tầm lên tác phẩm nghệ thuật với độ tinh vi, khéo léo vô cùng cao. Nghệ thuật đỉnh cao của nghề khảm truyền thống còn thu hút được cả người Pháp. Năm 1868 sau khi chiếm xong Nam Kỳ, Thống soái Pieere-Paul de La Grandière đã đàm phán nhờ triều đình Huế gửi vào Sài Gòn hai người thợ khảm giỏi để truyền nghề. Sang năm 1877, nghề khảm ốc Việt Nam chính thức được quảng bá ra thế giới thông qua sự kiện triều đình gửi tác phẩm sang Pháp dự Hội Chợ Đấu Xảo.

 

 

Khảm xà cừ có ở đồ trang sức, khuy áo, đũa, đồ gỗ như bàn, ghế, giường, sập, tủ, bình phong, tranh treo tường. Nó thường được kết hợp với đồ gỗ đánh bóng sơn mài mỹ nghệ. Tuy nhiên nền các bức khảm xà cừ thường có màu tối của lớp sơn đen, chứ không có thêm nhiều màu như các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác, vì bản thân chất liệu xà cừ đã tạo nên nhiều màu sắc óng ánh cho chi tiết trang trí.

 

 

Một sản phẩm khảm trai ra đời là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc. Các công đoạn để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh cần phải thực hiện khá tỉ mỉ: vẽ mẫu tranh, mài, cưa, đục mảnh, khảm lên tranh rồi lại mài nhẵn và đánh bóng. Ở bước khảm thì người nghệ nhân dùng những mảnh vỏ để khảm (gắn) lên các đồ vật.

Việc đưa ra ý tưởng sản phẩm với hoa văn, họa tiết phù hợp với chất liệu là công đoạn vô cùng quan trọng. Người nghệ nhân thường sẽ thể hiện ý tưởng trên bản vẽ mẫu sau đó tùy vào thực tế sẽ đánh giá và lựa chọn ra mẫu chuẩn nhất để thực hiện khảm trai. Người thợ có thể sáng tạo mẫu vẽ theo khả năng của mình hoặc theo yêu cầu của khách đặt hàng. Yêu cầu đặt ra cho một bản vẽ mẫu phải thật tỉ mỉ, rõ ràng và đạt độ chính xác cao nhằm đảo bảo chất lượng các tác phẩm được tạo ra là tốt nhất.

 
 

 

Một trong những yếu tố tạo nên một tác phẩm khảm đẹp chính là chất liệu. Để có thể tạo hình trai phù hợp với ý tưởng của bản vẽ, người nghệ nhân phải chọn được chất liệu phù hợp. Công việc này khá khó khăn và phức tạp yêu cầu người thợ phải có nhiều kinh nghiệm, hiểu biết để có thể làm toát lên sự tinh xảo của bức tranh. 

Chất liệu khảm xà cừ thông thường được lấy từ trai, ốc. Vỏ trai được ưa chuộng là loại vỏ trai của trai ngọc môi vàng (Pinctada maxima), thường có kích thước lớn, mặt trong có lớp xà cừ dày màu óng ánh. Làng nghề cổ truyền thì có những tên riêng cho những thứ ốc như “trai cửu khổng” (tức bào ngư), “diệp xù”, “trai cánh”, “trai Nông Cống”. Tuy nhiên những danh từ này chưa được hợp nhất với tên khoa học.

 

 

Cưa trai là một trong những công đoạn khó khăn yêu cầu sự tỉ mỉ và chính xác cao. Người nghệ nhân khảm trai cần cưa đục sao cho các mảnh trai, mảnh ốc phải còn nguyên vẹn hình dáng, màu sắc rồi mang đi mài, hơ lửa, ngâm rượu, sau cùng là đẽo, gọt các mảnh nhỏ thành hoa văn phù hợp với bức tranh. Muốn sử dụng vỏ ốc để khảm thì phải chẻ vỏ thành mảnh rồi rọc theo thớ. Mảnh vỏ ốc cắt xong thì đem ngâm nước rồi hơ đèn nóng để uốn phẳng vì vỏ ốc vốn cong. Trong khi đó mặt vật dụng muốn khảm thường là mặt gỗ phải khoét lõm để nhận lấy mảnh vỏ ốc. Người thợ dùng sơn ta để gắn. Gắn xong thì đem mài. Trước mài bằng giấy ráp cát to, tiếp theo là cát mịn rồi lại đánh bằng vôi bột. Bước cuối cùng là đánh bằng lá ngái rồi xoa bột gạo lên.
 

 

Sau đó là công đoạn đục gỗ. Đây là bước yêu cầu sự tỉ mỉ, thận trọng cao bởi quá trình đục gỗ, khắc hình chính là thao tác liên kết giữa ý tưởng và thực tế sản phẩm. Bản thân mỗi sản phẩm đục đã là một bức hội họa tuyệt vời vì nó được tạo ra từ đôi bàn tay tài hoa, đôi mắt tinh ý của người nghệ nhân. Để có thực hiện nhuần nhuyễn, chính xác yêu cầu người thợ phải có kinh nghiệm từ 4 - 6 năm trong nghề mộc thì mới có khả năng làm công đoạn này một cách nhịp nhàng, nhanh chóng.

 

 

Sau đó trai sẽ được gắn vào gỗ. Công đoạn này khá là kỳ công vì nó cần đảm bảo các mảnh trai đã tạo hình trước đó phải vừa khớp tại các vị trí hoa văn đã được chạm đục trước đó. Tập hợp các mảnh trai sẽ được chọn lựa thật kỹ càng để có thể tạo nên một bức tranh đặc sắc có tính thẩm mỹ cao. Thông thường, người thợ sẽ gắn trai nổi trên bề mặt gỗ. Những người sáng tạo hơn lại chọn phương pháp đục và gắn chìm trai xuống mặt bề để tạo độ sâu và tinh tế nhất định theo ý tưởng của thiết kế.

 

 

Khi tạo hình bức tranh hoàn tất, người thợ khảm trai sẽ thực hiện mài khảm và đánh bóng thô để những mảnh ghép nằm khớp và mịn trên bề mặt gỗ. Mặt khác, họ sẽ tiếp tục tỉa, gọt để tạo đường nét sắc sảo, tinh tế cho bức tranh. Ở công đoạn này, người thợ phải có chuyên môn cao, tay nghề tốt thì mới có thể thao tác tỉ mỉ, thận trọng để tạo nên bức tranh khảm trai độc đáo nhất.

 

 

Để hoàn thiện bức tranh khảm trai, bột đen được sử dụng để làm nổi bật, sáng rõ từng đường nét khắc chạm. Tác phẩm khảm sau khi phủ bột sẽ được phơi khô 1 ngày rồi mới tiến hành mài và đánh vecni để hoàn chỉnh tác phẩm.

Quá trình hoàn thiện một tác phẩm khảm trai tốn rất nhiều thời gian, công sức và yêu cầu người nghệ nhân phải có độ lành nghề và trình độ thẩm mỹ nhất định. Đó là lý do một sản phẩm khảm trai ra đời thường mất thời gian từ 1 - 3 tháng.

 

 

Khảm xà cừ thường được kết hợp với những đồ gỗ đánh bóng và sơn mài mỹ nghệ, tuy nhiên, nền của những bức xà cừ thường mang những gam màu tối của lớp sơn đen chứ không sặc sỡ hoặc có thêm nhiều màu sắc khác như nhiều thứ sản phẩm thủ công mỹ nghệ thường thấy. Bởi đơn giản, chính bản thân của chất liệu xà cừ (vỏ trai, vỏ ốc) đã tạo nên nhiều màu sắc óng ánh cho chi tiết trang trí, những sắc ánh kim lấp lánh và bắt sáng. Các họa tiết ở đồ khảm xà cừ rất đa dạng, nó phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của người nghệ nhân, vậy nên có thể là về hoa lá, chim bướm, các danh lam thắng cảnh ở Việt Nam hay từ một tích cổ nào đó trong dân gian…..không hạn định trong bất kỳ một khuôn khổ nào về nghệ thuật.

 

 

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nghề khảm xà cừ (khảm trai) vẫn liên tục kế thừa tinh hoa từ đôi bàn tay khéo léo của cha ông và phát triển hòa nhập với xu thế hiện đại. Ngày nay, có hai hình thức khảm là khảm chìm (xà cừ được gắn chìm xuống bề mặt gỗ) và khảm nổi (xà cừ được tạo hình 3 chiều và gắn nổi trên bề mặt gỗ). Các công đoạn khảm xà cừ đã được cải tiến rất nhiều. Tuy nhiên, một tác phẩm nghệ thuật thật sự với các chi tiết tinh xảo lại đòi hỏi bàn tay khéo léo, tài hoa, óc sáng tạo phong phú – điều chỉ có thể đạt được khi người thợ nhẫn nại làm thủ công ở tất cả các công đoạn. Họ miệt mài với những mảnh xà cừ, với từng thớ gỗ để gìn giữ hồn cốt dân tộc, tạo nên những tác phẩm sống mãi với thời gian.

 


Diệu Phi – VietKings (tổng hợp và biên tập)