[VIETKINGS – TOPPLUS đề cử] TOP 100 loại hình văn hóa – nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam (P.48): Tranh Đông Hồ – Tài sản quý của nghệ thuật dân gian Việt Nam

19-03-2023

(kyluc-top) – Nói đến văn hóa dân gian Việt Nam không thể không nhắc tới nghệ thuật làm tranh Đông Hồ, một món ăn tinh thần của người Việt xưa. Chỉ bằng những bảng khắc gỗ đục bằng tay và màu sắc từ cây cỏ, người Việt xưa ở làng tranh Đông Hồ đã sáng tạo nên dòng tranh dân gian vô cùng độc đáo, là tinh hoa của cả dân tộc.

Đông Hồ xưa là ngôi làng Việt cổ nằm ở bờ Nam sông Đuống có bề dày lịch sử hàng nghìn năm. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi “Nhất cận thị, nhị cận giang” nên từ xa xưa Đông Hồ đã là vùng quê trù phú với hệ thống giao thông đường sông thuận tiện, kết nối với nhiều vùng miền trong cả nước. Đó là lợi thế lớn để dòng tranh khắc gỗ dân gian của làng “đi” khắp cả nước. Với cách vẽ, nguyên liệu màu và giấy vẽ độc đáo, đậm hồn dân tộc, tranh Đông Hồ có sự gắn bó mật thiết với văn hóa Việt Nam qua nhiều thế kỷ, là một phần không thể thiếu trong các dịp lễ tết, hội hè hay trong đời sống thường nhật của người Việt. Chính điều đó làm nên sức sống lâu bền cho tranh Đông Hồ.    

 

 

Theo các nhà nghiên cứu, tranh Đông Hồ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XV - XVI. Nhưng thời kỳ hưng thịnh nhất của nghề bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1944. Tranh Đông Hồ mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có những đặc trưng riêng về kỹ thuật in, chủ đề, mầu sắc và đồ họa với các công đoạn làm tranh bằng tay, từ sáng tác mẫu tranh, khắc ván in đến làm màu, in tranh. Về thể loại, dựa vào nội dung chủ đề, có thể chia tranh Đông Hồ thành 7 loại chính, gồm tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.

Quá trình sản xuất tranh có nhiều khâu, song có thể tạm chia thành 2 công đoạn chính như sau: khâu sáng tác mẫu/khắc ván và khâu in/vẽ tranh. Sáng tác mẫu tranh và khắc ván là khâu lao động sáng tạo, khâu quan trọng, quyết định sự sinh tồn của một làng tranh. Nó đòi hỏi ít nhiều năng khiếu bẩm sinh và kỹ năng lao động cao ở các nghệ nhân. Công việc sáng tác mẫu tranh tốn rất nhiều thời gian, trước tiên phải lựa chọn đề tài, ý nghĩa, nội dung sâu sắc, màu sắc hài hoà, bố cục chặt chẽ và có giá trị nghệ thuật cao. Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực Nho để vẽ lên giấy bản mỏng và phẳng để người thợ khắc, đục ván theo mẫu. Việc sáng tác mẫu tranh không phải là việc của riêng các nghệ nhân mà thường là kết quả chung của một làng tranh, của nhiều thế hệ. Cũng chính vì thế mà trong tranh Đông Hồ, có trường hợp một mẫu nhưng có nhiều dị bản khác nhau, hoặc một mẫu tranh cũng có đến hai, ba cách phân bố màu khác nhau. Vì vậy, có nhiều mẫu tranh cổ đến nay chúng ta cũng chưa xác định được chủ nhân sáng tạo.

 

Sáng tác mẫu và tạo bản khắc gỗ

 

Chuẩn bị giấy

 

In tranh

 

Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét thường được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực. Gỗ thị có thớ đa chiều, vừa mềm, dễ khắc lại vừa dai, do đó khi khắc ván in, nghệ nhân có kỹ năng chạm khắc giỏi, sẽ tạo được các nét gọn, mảnh, nhỏ, tinh vi và ván in lại mềm. Dụng cụ khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve, được làm bằng thép cứng. Mỗi bộ ve có khoảng 30 - 40 chiếc. Đối với những bức tranh khổ lớn như tranh chủ, Y Môn, hay tranh Tứ Bình, Tứ Quý thì ván in tranh không được làm to bằng khổ tranh mà được cắt nhỏ ra thành ba, bốn ván, rồi khi in người in tranh phải ghép các mảnh lại thành một tác phẩm hoàn chỉnh. Để hoàn thành một tác phẩm phải có sự phối hợp hài hòa giữa kỹ thuật và nghệ thuật, tức là người sáng tác mẫu, người khắc ván và thợ in.

 

Ván in tranh dân gian Đông Hồ được làm từ các loại gỗ có khả năng giữ màu cao

 

Vật liệu và dụng cụ dùng để in tranh gồm: giấy dó, các loại màu, ván in, co ván, bìa và thét (chổi làm bằng lá thông). Cách thức in tranh như sau: trước khi in tranh, phải chuẩn bị sẵn giấy in để thành 1 tập (khoảng từ 100 đến 200 tờ ở trước mặt). Khi in, người ta nhúng thét lá thông vào chậu màu để lấy màu, rồi quét đều trên mặt bìa. Phương pháp lấy mực để in tranh dân gian Đông Hồ theo cách xếp ván, tức là cầm "co" ván dập đi, dập lại tấm ván xuống mặt bìa đã được phết màu, để màu thấm đều trên bề mặt ván, sau đó đặt ván in lên tờ giấy định in sao cho cân đối, chính xác, ấn mạnh ván in vào tờ giấy, để có sự liên kết nhất định, rồi lật ngửa ván in có dính cả tờ giấy in tranh lên; lấy xơ mướp xoa đều lên mặt sau tờ giấy, để cho phẩm mầu trên mặt ván tiếp tục thấm đều trên mặt giấy. Tiếp đó, gỡ tờ tranh ra khỏi ván in, rồi mang tranh ra phơi ở những nơi thoáng mát. Tranh khô rồi mới tiếp tục lần lượt in các màu khác. Bản nét đen bao giờ cũng được in cuối cùng.

 

 

Tranh Đông Hồ thường được đóng khung hoặc nẹp bằng gỗ. Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang),... Đây là những gam màu cơ bản, không pha trộn và thường thì tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu để tương ứng với số bản khắc gỗ. Những chất màu thô này được trộn với nhau và hoà với một lượng bột nếp trước khi in để tạo một lớp hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô. Rõ ràng tranh Đông Hồ không phải là tranh vẽ, mà được in từ những mộc bản có sẵn. Nhưng chớ vội lầm tưởng việc in tranh là đơn giản! Để màu sắc tươi sáng không bị lấm lem thì một bức tranh chia làm bao nhiêu phần bố cục, thì mất bằng ấy lần in. Lối in thủ công giản dị mà tinh xảo, trên một mặt phẳng theo lối “đồng hiện”, bất chấp luật xa/gần trong hội họa phương Tây tạo nên một dòng tranh đặc sắc, thuần Việt, quý báu.

 

 

Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển nhưng nguyên tắc về kỹ thuật khắc ván, in tranh Đông Hồ hầu như vẫn được bảo tồn. Sự thay đổi hầu như chỉ ở đề tài hoặc chất liệu tạo nên sản phẩm. Để tạo ra được một sản phẩm tranh Đông Hồ hoàn chỉnh từ nội dung đến hình thức đề tài, bố cục, màu sắc và thơ, chú thích trên tranh đòi hỏi một sự tài hoa trong nét vẽ, nét khắc, súc tích, ý nhị trong việc đặt lời ngắn nhưng nêu lên được đầy đủ ý nghĩa. Chữ trên tranh thường là thơ, câu đối hay những lời chúc tụng thậm chí là những câu nói đời thường nhưng lại có ý nghĩa rất rộng và sâu xa… Khi được đưa vào tranh, chữ không chỉ đóng vai trò là làm rõ nghĩa bức tranh mà còn làm tăng sự chặt chẽ và cân đối trong bố cục.

 

 

Về giá trị nghệ thuật, so với các dòng tranh  khác, tranh dân gian Đông Hồ có tính biểu trưng, trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ, độc đáo trong việc sử dụng đường nét tiết giản và những mảng màu dẹt đều, là màu tự nhiên của cỏ cây, hoa lá, tươi sáng trên nền giấy dó quét điệp óng ánh. Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân nơi đây. Đó là những bức tranh khắc hoạ ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hoà, ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Tranh dân gian Đông Hồ góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ những vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú.

 

 

Trên phương diện xã hội, tranh dân gian Đông Hồ cũng có giá trị đấu tranh trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những bất công trong xã hội. Bức tranh “Đám cưới chuột” thể hiện sắc thái châm biếm sâu sắc đối với chú mèo là đại diện cho tầng lớp thống trị, chú chuột là hình ảnh người nông dân. Mèo gian tham, thích ăn hối lộ, chuột khôn ngoan, tinh quái, luôn cảnh giác với mèo. Tranh “Đánh ghen” với ngụ ý phê phán thói trăng hoa của các bậc nam nhi, vừa khuyên nhủ một cách kín đáo để can gián một bi kịch gia đình… “Tứ bình,” “Tứ quý” (về bốn mùa xuân-hạ-thu-đông), “Tùng hạc” (hạc và cây tùng), “Kê cúc” (gà và hoa cúc), “Liên áp” (vịt và sen)…, hay dòng lưu giữ những nét đẹp truyền thống của văn hóa dân tộc qua các bức vẽ phản ánh sinh động cuộc sống sinh hoạt, lễ nghi, hội hè của làng quê vùng châu thổ Bắc Bộ như “Đánh đu,” “Đánh vật,” “Rước trống,” “Múa rồng,” “Múa lân,” “Hội làn,” “Chọi trâu,” “Đấu vật”…

 

 

Sở dĩ tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và sự cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ người Việt cũng như du khách nước ngoài bởi những đề tài trên tranh phản ánh khá chân thực, sinh động và đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị cũng như nét văn hóa truyền thống của người Việt. Cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng tới chừng nào.


Diệu Phi – VietKings (tổng hợp và biên tập)