Sắc Tết hiện hữu nơi làng nghề truyền thống (P.12): Làng đúc lư đồng An Hội (TP.Hồ Chí Minh) – Nét thiêng Tết Việt từ bàn tay nghệ nhân

21-02-2026

(kyluc.vn) Suốt hơn 100 năm tồn tại và phát triển, làng đúc đồng An Hội vẫn giữ được ngọn lửa nghề rực cháy trong lòng mỗi nghệ nhân. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, những tác phẩm thủ công tinh tế vẫn ra đời, mang đậm dấu ấn của một làng nghề truyền thống vang danh.

 

Trong tín ngưỡng văn hóa tâm linh của người Việt, hành kim tượng trưng cho thành công, màu vàng là sự thịnh vượng. Tập hợp cả 2 yếu tố trên lư hương được ưa chuộng và yêu thích, trở thành đồ thờ cúng không thể thiếu trên bàn gia tiên. Vào ngày Tết hay vào dịp đám tiệc, bộ lư sáng bóng trên bàn thờ tổ còn thể hiện được sự giàu sang, đầy đủ của gia chủ. Và làng đúc lư đồng nổi tiếng bât nhất tại TPHCM là làng nghề đúc đồng An Hội.

 

 

Các sản phẩm đồng của Làng An Hội nức tiếng tại đất Sài Gòn từ xưa đến nay bởi độ tinh xảo và độ bền của từng sản phẩm

 

Theo lời kể của các bậc cao niên nơi đây, làng đúc đồng ở Sài Gòn ban đầu có mặt ở khu Chợ Quán, Phú Lâm vào đầu thế kỷ 19. Sau đó, được ông Trần Văn Kỉnh (người dân hay gọi là Năm Kỉnh) sang các lò học nghề. Đến khi thạo việc, ông quay lại khu Gò Vấp để mở xưởng hoạt động. Mang nghề mới về làng, ban đầu ông Năm Kỉnh chỉ nhận dạy và truyền nghề cho các con cháu trong dòng họ. Nghề đúc đồng An Hội ra đời và trở thành địa chỉ sản xuất lư đồng bậc nhất tại đất Sài Gòn-Gia Định xưa. Thời gian sau, ông Trần Văn Thắng (Hai Thắng), một trong những học trò xuất sắc của ông Năm Kỉnh, muốn phát triển hơn nghề này nên đã truyền dạy cho con em trong vùng.

Trước năm 1975, là thời điểm làng nghề phát triển nhất, cả làng có đến 60 hộ với hàng trăm nghệ nhân làm nghề. Lúc này, ở khu vực Chợ Lớn-Gia Định, đã hình thành các khu bán hàng thủ công và rất nhiều sản phẩm đúc đồng từ nồi, niêu, xoong, chảo đến đồ thờ cúng, lư hương, chân đèn. Sản phẩm đúc đồng An Hội lúc bấy giờ không chỉ có mặt khắp xứ Nam Kỳ lục tỉnh, mà còn sang tận các nước trong khu vực…Tuy nhiên, hiện nay, làng chỉ còn 5 lò đang hoạt động là: Hai Thắng, Ba Cồ, Năm Toàn, Sáu Bảnh và Út Kiển.

 

 

Để làm ra một bộ lư đồng hoàn chỉnh cần trải qua 12 công đoạn: Tạo khuôn, bịt sáp, bít khuôn, bít đất, cố định khuôn, nung khuôn, nấu đồng, đồ khuôn, làm sạch khuôn, hàn, điêu khắc và đánh bóng Trước tiên là tạo mẫu, hình dáng cho lư rồi bắt đầu làm khuôn ruột. Khuôn ruột được làm bằng đất sét tốt, không lẫn cát. Loại đất đáp ứng yêu cầu này thường được đặt mua từ các tỉnh miền Đông Nam bộ, đem cán nhuyễn, sàng lọc thành bột trộn với tro trấu. Tiếp theo là đúc khuôn sáp bằng vật liệu sáp ong trộn với sáp đèn cầy, công đoạn này đòi hỏi người có tay nghề cao bởi khuôn sáp tạo dáng thế nào thì mẫu lư đồng sau khi nung sẽ có hình dạng như thế ấy, lư đẹp hay xấu nằm ở khâu này. 

Công đoạn tiếp theo là bao bọc 2 lớp đất sét bên ngoài và bên trong khuôn sáp, loại đất này nhất thiết phải được rây thật mịn để sản phẩm sau khi đúc không bị rỗ mặt, song song đó hai bộ khuôn phải thật chắc để lúc đổ đồng vào không bị bể…

 

Bắt đầu là làm khuôn ruột bằng đất sét tốt, không lẫn cát. Loại đất đáp ứng yêu cầu này thường được đặt mua từ các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, đem cán nhuyễn, sàng lọc thành bột trộn với tro trấu giã nhuyễn.

 

 

Tiếp theo là công đoạn đúc khuôn sáp bằng vật liệu sáp ong trộn với sáp đèn cầy - một công đoạn đòi hỏi người có tay nghề cao bởi khuôn sáp tạo dáng thế nào thì bộ lư đồng sau khi nung sẽ có hình dạng như thế ấy​   

 

 

Sau đó khuôn được bó một lớp đất sét trộn trấu để làm lớp vỏ. Có thêm trấu, lớp đất áo bên ngoài sẽ chịu nhiệt tốt hơn.

 

Những chiếc khuôn sau khi phơi khô sẽ tiếp tục tinh chế, tỉa gọt, quét sáp. Sau khi khuôn đúc hoàn thành, sẽ đem đi nung và rót đồng vào.Điều đặc biệt trong nghề đúc đồng truyền thống là mỗi cơ sở, mỗi dòng họ đều có một bí quyết riêng về tỉ lệ pha chế hợp kim đồng, được truyền lại qua nhiều thế hệ và tuyệt đối không tiết lộ ra bên ngoài. Đây chính là “cái hồn” tạo nên bản sắc riêng của từng làng nghề, từng nghệ nhân. Có những nghệ nhân lâu năm chỉ cần nghe tiếng lửa cháy trong lò cũng có thể đoán được nhiệt độ, độ sôi của đồng, khuôn đã đạt hay chưa, từ đó quyết định chính xác thời điểm thêm củi, bớt than để điều chỉnh ngọn lửa cho phù hợp. Các bước cuối cùng khắc hoạ tiết và mài lại sản phẩm phải được những thợ tay nghề lâu năm đảm nhận. Đây là công đoạn đòi hỏi sự kiên nhẫn, bền bỉ và cả khéo léo của đôi tay.  

 

 

Lư thô sẽ được mài định phom dáng, gọt các chi tiết dư thừa

 

 

Công đoạn chạm khắc là công đoạn gần như cuối cùng và rất quan trọng. Hoàn toàn thủ công nên lư đồng có một giá trị nghệ thuật rất đặc biệt

 

Ngoài các sản phẩm truyền thống như lư đồng, tại làng An Hội còn sản xuất nhiều loại sản phẩm như chân nến, đỉnh đồng, mâm bồng, tượng linh vật, câu đối, hoành phi… cũng được sản xuất với số lượng lớn và mẫu mã phong phú hơn.

 

 

Làng đúc lư đồng An Hội không chỉ là cái nôi của một nghề thủ công truyền thống mà còn là biểu tượng sống động của tinh thần lao động miệt mài, sáng tạo và tài hoa của người Việt. Mỗi sản phẩm từ đôi tay của những người thợ nơi đây đều chứa đựng một phần hồn cốt văn hóa, là kết tinh của kỹ thuật tinh xảo và sự trân trọng dành cho giá trị tâm linh. Làng nghề có thể không còn tấp nập như xưa, nhưng tinh thần nghề nghiệp, lòng yêu nghề và niềm tự hào của người dân An Hội vẫn luôn cháy bỏng. Giữ gìn làng đúc đồng An Hội không chỉ là bảo tồn một ngành nghề, mà còn là lưu giữ một phần hồn Việt – nơi truyền thống, tâm linh và bàn tay con người cùng tạo nên những giá trị vượt thời gian.

 


Mỹ Hằng - VietKings (Tổng hợp và biên tập, ảnh: Internet)